Trang chủ ; Review; Chính sách bảo mật Prev Article Next Article . Top 7 mẫu phân tích 3 khổ cuối bài Sóng hay chọn lọc. Facebook; Prev Article Next Article . Related Posts. 7 Mẹo làm bài thi TOEIC -Part 1: Mô tả Hình ảnh mới nhất. administrator 11/08/2022. Về bài "Bạch Đằng giang phú" của
Phân tích hai khổ đầu bài thơ Tràng giang của Huy Cận. "Trên cánh đồng văn chương màu mỡ người nghệ sĩ như những hạt cát bụi bay lượn trong không khí để tìm cho mình những dư vị còn lại". Với Huy Cận ông tìm về nơi lặng tờ của quê hương, xứ sở đó là
Phân tích 2 khổ cuối của bài văn Chạy trốn gồm dàn ý và 12 bài văn mẫu dưới đây không chỉ giúp các em học sinh lớp 11 có thêm nhiều ý tưởng hay cho bài văn của mình mà còn rèn luyện kĩ năng viết văn của mình. hoàn cảnh ra đời, nội dung bài thơ. do đó, có thể thấy
I. Lập Dàn Ý Phân Tích Tràng Giang của Huy Cận. 1. Msinh sống bài xích phân tích bài bác thơ Tràng Giang - Giới thiệu về người sáng tác Huy Cận cùng điểm lưu ý thơ Huy Cận trước bí quyết mạng mon Tám: Huy Cận là 1 trong những trong số đông đảo bên thơ có tương đối nhiều góp phần mang lại phong trào thơ Mới.
Tại buổi tiếp, Đại tướng Phan Văn Giang chúc mừng ông Andrew Goledzinowski được bổ nhiệm làm Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Australia tại Việt Nam. Trong bối cảnh hai nước đang tích cực hướng tới kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1973-2023), tin tưởng Đại sứ Andrew Goledzinowski sẽ có một nhiệm kỳ
Vay Tiền Nhanh Chỉ Cần Cmnd. 1. Dàn ý phân tích 2 khổ đầu bài Tràng Giang Mở bài giới thiệu tác giả tác phẩm Thân bài * Khổ 1 Bức tranh thiên nhiên bao la, vô tận Những vòng nước đuổi nhau đến tận chân trời Qua khổ thơ còn thể hiện nỗi buồn vô tận của tác giả. Trôi trên dòng sông hữu tình của tác giả Tâm trạng chia ly, tản mạn * Khổ 2 Không gian, thời gian qua bài thơ Không gian vắng vẻ, vắng vẻ Không gian yên tĩnh, tĩnh lặng Không gian bị đẩy vô tận Cảnh vật khiến con người trở nên nhỏ bé Kết bài đánh giá lại giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật. Hai khổ thơ đầu của bài thơ Tràng Giang hiện ra một bức tranh thiên nhiên và không gian núi rừng bao la. Bên cạnh đó tác giả còn thể hiện tình yêu quê hương, đất nước của tác giả. Qua bài thơ, ta hiểu được phong cách thơ độc đáo của tác giả Huy Cận. 2. Phân tích 2 khổ đầu bài Tràng giang hay nhất Là một trong những nhà thơ nổi tiếng trong phong trào thơ mới, Huy Cận đã để lại cho kho tàng văn học Việt Nam nhiều tác phẩm đặc sắc. Bài thơ “Tràng Giang” được ông viết trong thời kỳ trước cách mạng với một nỗi buồn, sự bế tắc của một kiếp người trôi nổi không điểm dừng. Nỗi buồn ấy được thể hiện rất rõ trong hai khổ thơ đầu. Mở đầu bài thơ, Huy Cận cho người đọc thấy những hình ảnh rất quen thuộc sóng, thuyền, sông để gợi cảm xúc “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước tune tune” Tác giả khéo léo sử dụng âm Hán Việt “ang” cho danh từ “tràng giang” để gợi tả một không gian rộng lớn, choáng ngợp. Đây cũng là một trong những phong cách thơ nổi bật của Huy Cận. Lúc này, tâm trạng nhà thơ trở thành “buồn điệp điệp” – nỗi buồn được cụ thể hóa, được ví như những con sóng vỗ vào nhau, nối tiếp nhau cập bờ. Nỗi buồn ấy dường như tồn tại mãi, âm ỉ và dai dẳng trong lòng tác giả. Từ “tune tune” dường như ám chỉ hai thế giới dù luôn ở gần nhau nhưng lại không bao giờ gặp nhau. Qua 2 câu thơ tác giả đã cho ta thấy sự lẻ loi của con đò trên sông, là hình ảnh ẩn dụ cho hình ảnh lẻ loi của con người trên dòng sông cuộc đời. Huy Cận đã sử dụng thành công nghệ thuật đối lập, tương phản tạo nên nét cổ kính cho bài thơ. Thuyền và nước luôn gắn bó mật thiết với nhau nhưng qua cách diễn đạt của nhà thơ lại có tác dụng ngược lại, lạc nhịp, gợi cảm giác xa vắng, cô đơn. “Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng” Có lẽ Huy Cận là người đầu tiên sử dụng hình ảnh cành củi khô trong thơ mình, một hình ảnh độc đáo và táo bạo. Tác giả muốn cho mọi người thấy những nét đột phá trong phong trào thơ mới, khi trước đây, những điều tầm thường hiếm khi được phép có. Hình ảnh củi khô giữa đời thường với vẻ đẹp giản dị nhưng lại có giá trị biểu cảm vô cùng to lớn. Huy Cận đã khéo léo sử dụng nghệ thuật đảo ngữ và chọn lọc những từ đơn để diễn tả nỗi cô đơn của cảnh củi khô lênh đênh giữa mênh mông nước. Ở khổ thơ thứ hai, tác giả miêu tả một khung cảnh vắng vẻ với một không gian rộng mở “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài, trời rộng, bến cô liêu” Các từ “lơ thơ”, “đìu hiu” gợi lên sự nhỏ bé, ít ỏi trong một không gian vô định – đây chính là sự cảm nhận bằng hình ảnh. Ngoài thị giác, tác giả còn cảm nhận thính giác với những âm thanh của cuộc sống và tiếng làng xa trong tiếng chợ chiều. Màu nắng chiều cùng với cảnh sông dài, trời rộng, bến vắng gợi tả nỗi cô đơn, buồn tủi của con người trước cuộc đời. Người đọc có thể dễ dàng cảm nhận được nỗi sợ hãi vô vọng của tác giả khi không tìm thấy mối liên hệ nào với cuộc sống. Hai khổ thơ đầu của bài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận mang đến một không gian bao trùm với nỗi cô đơn, buồn bã vô tận. Một con người cô độc, đơn độc trước dòng đời hối hả, không tìm được mối liên hệ với thế giới bên ngoài. Có lẽ vì thế mà tác phẩm luôn được nhiều độc giả yêu thích, không bị lớp bụi thời gian che lấp. 3. Phân tích 2 khổ đầu bài Tràng giang ngắn gọn nhất Trong cánh đồng văn chương màu mỡ, người nghệ sĩ như một hạt bụi bay trong không trung để tìm chút dư vị còn sót lại. Với Huy Cận, ông về với chốn bình yên của quê hương, quê hương ấy là dòng sông đỏ nặng phù sa, cảm hứng của ông bắt nguồn từ đó và đọng lại trong “Tràng Giang” được thể hiện qua hai khổ thơ đầu của bài thơ. “Thơ là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc. Không có cảm xúc, người nghệ sĩ không thể làm thơ, ngôn từ chỉ là những con chữ nằm trên trang giấy. Trước hết, nhà thơ phải là người có tâm hồn, giàu rung cảm, thấu cảm trọn vẹn trước những thời khắc của cuộc đời để tràn đầy cảm xúc mãnh liệt. Chính những cảm xúc đó đã thôi thúc tác giả viết về quê hương bằng những hình ảnh thiên nhiên quen thuộc. Huy Cận với cảm xúc, ông đã chuyển hóa thành cảm xúc và làm thơ. Và Tràng Giang là một trong những tác phẩm xuất sắc của ông, ca từ dạt dào cảm xúc và vào một buổi chiều năm 1939 tác giả đứng ở bờ nam Bến Tràng, trước mặt là sông Hồng mênh mông, cảm xúc thời thế dồn lại với cái tôi quá nhỏ bé với vũ trụ bao la. Thế là ông viết bài thơ này, hai khổ thơ đầu của bài thơ là cảnh sông Hồng mênh mông, cảm xúc xưa cũ của nhà thơ trước cảnh vật. “Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước tune tune Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu đâu tiếng Làng xa vãn chợ chiều nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu” Khổ thơ đầu là cảnh sông Hồng nhấp nhô sóng vỗ, ở khổ thơ đầu tác giả sử dụng hàng loạt từ “thuyền, nước” là những từ mà các nhà thơ xưa đã dùng để miêu tả cảnh thiên nhiên tươi đẹp. Đây như một bức tranh màu nước, toàn cảnh sông nước thơ mộng, êm đềm nhưng buồn đến tê tái. Nói về nỗi buồn ấy, Hoài Thanh nhận xét “Thiên nhiên trong thơ đẹp nhưng chứa chan nỗi buồn”. Nỗi buồn đó được Huy Cận lý giải rằng “lúc đó chúng tôi có một nỗi buồn thế hệ, một nỗi buồn không tìm được lối thoát nên kéo dài mãi”. Đó là nỗi buồn của người sống trong cảnh nước mất nhà tan, có lẽ vì thế mà trên dòng Tràng Giang chỉ có một nỗi buồn mênh mang. “Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước tune tune” Từ “điệp điệp” là để diễn tả những gợn sóng lăn tăn hết lớp này đến lớp khác, không có điểm dừng. Điệp buồn thể hiện nỗi buồn của thiên nhiên nhưng thực ra là nỗi buồn của thi nhân, gợn sóng lăn tăn. Những con sóng vỗ vào bờ. Thuyền và nước là hai cảnh vật luôn đi cùng nhau, không bao giờ tách rời nhưng trong mắt Huy Cận lại trở nên cô đơn, lạc lõng. Từ đó, cảm xúc của nhà thơ lan tỏa ra vũ trụ “nghĩa trăm phương” nơi không gian vừa được mở ra theo chiều rộng, vừa mở ra theo chiều dài. Vì vậy, hình ảnh này làm ta liên tưởng đến hai câu thơ “trăng cao” của Đỗ Phủ “vô biên niên mộng tiêu tiêu hạ Bất tận Trường Giang cổ cổ lai” Con thuyền là sự hiện diện của cuộc đời một con người, nhưng rồi sự xuất hiện ấy chỉ thoáng qua trong giây lát rồi nép vào bờ. Trở về bình yên ngắm sóng “Con thuyền xuôi ngược” Đây là sự liên tưởng đến một kiếp người trôi dạt, có lẽ tác giả cũng sống trong hoàn cảnh đó. “Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng” Ở hai câu thơ này, Huy Cận đã sử dụng phép tương phản rất táo bạo. Chỉ đối lập và đối lập nhưng câu thơ vẫn cân đối hài hòa giữa con thuyền và cành củi khô bấp bênh trên sông Trường Giang. Trong thơ Huy Cận nói nhiều đến nỗi buồn cổ kính, nỗi buồn của mùa thu. Đến với bài thơ này ta lại bắt gặp một nỗi buồn khác “buồn trăm bề”, không chỉ với ba chữ này ta thấy nỗi buồn của nhà thơ lan tỏa khắp cảnh vật nơi đây. Nếu như trong thơ Xưa, nhà thơ thường sử dụng các chất liệu như tùng, cúc, trúc, mai thì ở đây Huy Cận đưa ra một hình ảnh rất quen thuộc, đời thường “Củi khô”. Nguyễn Đăng Mạnh đã viết rằng “lần đầu tiên trong lịch sử thơ ca nhân loại, có một cây củi khô nổi giữa thơ Huy Cận”. Cũng như nỗi buồn của kiếp người trong xã hội cũ, khổ thơ này được coi là khổ thơ đặc sắc nhất, bởi ở đây mang một âm điệu buồn, người ta phát hiện ra một cảnh thiên nhiên buồn. Cảnh trời rộng sông dài ở đây gợi tả sự bao la, trống trải, thể hiện nỗi buồn triền miên của Huy Cận và cảnh sông Hồng. Bên cạnh nỗi buồn cổ kính, nỗi buồn mùa thu, nỗi buồn ấy dường như được nhân lên gấp bội. Bức tranh sông nước được vẽ thêm nhiều đất, nhiều làng nhưng vẫn buồn đến tê tái, nỗi buồn ấy được gợi lên từ những cồn nhỏ, thêm vào đó là tiếng gió, sự tĩnh lặng của cảnh vật “lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” Tiếng chợ đã tắt không ai để ý. Như vậy, nhà thơ dùng tĩnh và tả để thể hiện nỗi buồn sâu thẳm của nhà thơ, hai dòng tiếp theo của khổ thơ, bức tranh Tràng Giang vô biên đã kéo dài đến vô tận. “nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu” Ở đây Huy Cận miêu tả không gian ba chiều giữa cảnh và người, nhà thơ như một vật nhỏ chơi vơi giữa bến với những tia nắng chiếu xuống mặt đất trong xanh làm ta liên tưởng đến bầu trời xanh. Ở đây, tác giả không dùng từ “chót vót” mà dùng từ “sâu” để gợi tả độ cao của trời xanh, qua đó cho ta thấy trước khung cảnh ấy, con người càng lạc lõng, cô đơn cùng với nhau. Chính sự tương phản ấy đã tạo nên cho hai khổ thơ này một nỗi buồn tê tái, thấm đượm cảm xúc của nhà thơ và nỗi buồn ấy chất chứa nỗi buồn muôn thuở của tác giả. Thành công của hai khổ thơ là sự sáng tạo nghệ thuật, sự kết hợp hài hòa giữa cổ điển và hiện đại. Sử dụng nhiều thi liệu cổ, ngôn từ giản dị, giàu hình ảnh. Sang trang thơ Huy Cận, ta không khỏi quên nỗi buồn tê tái của nhà thơ trước khung cảnh, cảnh nước mất nhà tan. Bài thơ vừa mang đậm phong cách Huy Cận, vừa là một dấu son chói lọi trong nền thơ ca Việt Nam và trong lòng người đọc. 4. Phân tích 2 khổ đầu bài Tràng giang đạt điểm cao nhất Mỗi nhà thơ trong phong trào Thơ mới khoác lên mình một bộ cánh hiện đại khác nhau, một phong cách, một giọng điệu riêng không thể tìm thấy ở giọng điệu của ai khác. Còn Huy Cận, với nỗi buồn nhân thế và nỗi buồn vũ trụ, ông góp nhặt chút buồn tản mạn để thu vào những vần thơ đa cảm trong “Tràng Giang”. Đặc biệt với hai khổ thơ đầu của bài thơ, bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, buồn bã với tâm trạng bơ vơ, bế tắc đã góp phần tạo nên một sắc thái rất riêng, rất Huy Cận. Có thể nói, mỗi khổ thơ trong Tràng Giang được ví như một bài thơ riêng biệt, mỗi khổ thơ vừa mang hương vị cổ điển vừa hiện đại, chứa đựng những nét hấp dẫn riêng. Khổ thơ đầu “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước tune tune Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng.” Hình ảnh “Tràng Giang” gợi một dòng sông dài hùng vĩ với những bọt sóng tung trắng xóa, tượng trưng cho sự hùng vĩ của thiên nhiên, sông nước. Nhưng, những con sóng ấy bao giờ cũng êm đềm, tựa đầu vào nhau trong những “điệp khúc” buồn. Con thuyền lại xuất hiện, đó là một hình ảnh quen thuộc ta đã thấy trong nhiều bài thơ tứ tuyệt khác “Cô chu nhất hệ cố viên tâm.”Con thuyền buộc chặt mối tình quê. Thu hứng – Đỗ Phủ. Con thuyền trên sông tiễn biệt người bạn tri kỷ trong thơ Lý Bạch trong bài “Tống Hạo Nhiên chi Quảng Lăng” “Cô phàm viễn ảnh bích không tận Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.” Hình ảnh con thuyền đã trở thành câu thơ quen thuộc, cổ điển thường gợi nỗi cô đơn. Con đò ấy trôi vô tận trên sông nước gợi lên nỗi cô đơn, vô định của kiếp người. Thuyền và nước gắn kết với nhau, ở đây sông và thuyền chia đôi, thuyền tune tune xuôi dòng, từ đó mới thấy được sự bơ vơ, lạc lõng của một kiếp lênh đênh. Để con thuyền và dòng nước vốn gắn bó mật thiết với nhau lại phải cách xa nhau khiến cho “con thuyền buồn trở về” để lại một dòng sông buồn. Tâm hồn bạn có mất đi nỗi buồn không? Câu cuối của khổ thơ là một hình ảnh sinh động lồng trong bài thơ, cũng là tinh thần thơ mới mẻ, sáng tạo của Huy Cận để thấy ý nghĩa “tập cổ mà không nệ cổ” “Củi một cành khô lạc mấy dòng.” Hình ảnh cành củi khô đã được Huy Cận chọn lọc và thể hiện tài hoa. Nếu như thơ trung đại thường chọn những hình ảnh ước lệ sang trọng thì ở thơ Huy Cận, ông sẵn sàng đưa chất sống phong phú, gần gũi của đời thực “cành khô” vào thơ rất chân thực và gần gũi với cuộc sống hàng ngày và khiến cho những vật vô tri vô giác cũng có linh hồn. Cành khô gợi sự sống khô héo, mục nát, mất sức sống, hoặc chết vì củi khô không còn sự sống. Nhưng buồn hơn, đau đớn hơn là khúc gỗ khô bị “lạc mấy dòng” thể hiện nỗi cô đơn, mất mát, bế tắc của kiếp người. Phải chăng hình ảnh cành củi khô lạc lõng giữa những dòng thơ ấy hay chỉ là ẩn dụ cho thân phận, số phận của những con người lênh đênh, lạc lõng giữa dòng đời tất bật, hối hả này? Qua đó, thể hiện một cách kín đáo nỗi xót xa của Huy Cận. Ở khổ thơ thứ hai, khung cảnh được vẽ bằng những đường nét thê lương hơn “Lơ thơ cồn cỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu.” Hình ảnh những ngọn cỏ xơ xác một lần nữa tô điểm thêm cho nét vẽ tồi tàn, tồi tàn của cảnh vật chỉ còn bức tranh cuộc sống còn lay lắt, đạm bạc. Chợ là biểu tượng cho nhịp sống, nhịp sống kinh tế sôi động, nhộn nhịp của một vùng. Tuy nhiên, tiếng chợ nơi đây cứ vang vọng đâu đây, cuộc sống từ lâu đã đi vào trạng thái ngưng trệ, không còn nhộn nhịp như trước. Tiếp tục những nét vẽ cho bức tranh phong cảnh, không gian càng hiện ra hùng vĩ hơn. Nắng đổ xuống đáy sông và hình ảnh bầu trời nhô cao làm cho mặt phẳng không gian như bị chia cắt, dồn nén, cắt khúc ở giữa gây cảm giác ngột ngạt, khó chịu cho nhân vật trữ tình. Sông dài mà bến vắng, một lần nữa nỗi cô đơn hiện ra đầy u buồn càng thấm sâu vào không gian ba chiều, tê tái đi vào lòng người. Qua hai khổ thơ đầu, với những hình ảnh cổ điển quen thuộc xen lẫn hiện đại, đúng với tinh thần của cái tôi thơ Mới. Đó cũng là nỗi buồn, nhưng không còn gắn với những quan niệm, chuẩn mực đạo đức, chữ hiếu như thơ ca trung đại mà là nỗi buồn của những cá nhân cảm thấy bơ vơ, bế tắc, lạc lõng trong thực tại. Thiên nhiên vì thế rộng lớn, hùng vĩ nhưng lại rất hiu quạnh, hoang vắng. Bằng tình yêu thiên nhiên và trái tim của một nhà thơ Mới, bằng chính giọng điệu của mình, Huy Cận đã tạo nên những vần thơ tinh tế, thấm đượm cảm xúc buồn.
Bài Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận sẽ giúp các em cảm nhận được khung cảnh tràng giang vắng vẻ, tịch liêu và tâm trạng cô đơn, lạc lõng của người thi nhân khi đứng trước thiên nhiên rộng lớn. Bài viết liên quan Phân tích hai khổ đầu bài Tràng Giang Phân tích khổ 3 bài thơ Tràng giang của Huy Cận Bức tranh Tràng giang và nỗi niềm của Huy Cận Phân tích hai khổ thơ cuối bài Tràng Giang Dàn ý Phân tích hai khổ thơ cuối bài Tràng Giang Đề bài Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy CậnMục lục bài viếtI. Dàn ý chi tiếtII. Bài văn mẫu Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy CậnI. Dàn ý Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận Chuẩn1. Mở bài- Giới thiệu khái quát về tác giả Huy Cận, bài thơ Tràng Dẫn dắt vào khổ thơ thứ hai Nỗi buồn thấm sâu vào cảnh Thân bài- Khung cảnh sông nước đìu hiu, quạnh vắng gợi lên sự buồn bã, cô đơn+ Cặp từ láy "lơ thơ", "đìu hiu" gợi không gian vắng lặng, cô quạnh.+ Hình ảnh chợ chiều đã vãn gợi sự buồn tẻ, cô tịch.=> Không có bóng dáng con người chỉ có cảnh vật với đất trời mênh mông, xa Tâm trạng cô đơn, lạc lõng của tác giả+ "trời lên sâu chót vót" thăm thẳm, hun hút khôn cùng, chiều cao trời đất như vô tận.+ "Sông dài, trời rộng" càng dài rộng bao nhiêu thì càng vắng lặng, cô liêu, lẻ loi bấy nhiêu.=> Thấm thía nỗi cô đơn, sự nhỏ bé của con người trước không gian rộng lớn của vũ trụ. Nỗi buồn thấm cả vào không gian ba chiều, con người trở nên bé nhỏ, rợn ngợp, lạc Kết bàiĐánh giá đặc sắc nội dung, nghệ thuật và nêu cảm nhận về khổ Bài văn mẫu Phân tích khổ 2 bài Tràng Giang của Huy Cận Chuẩn"Tràng Giang" là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Huy Cận trước cách mạng tháng Tám. Mỗi câu thơ đều thấm đượm nỗi sầu "miên viễn" của tác giả, nỗi buồn nào cũng được gợi lên bằng sự đối lập giữa không gian mênh mông cao rộng và cái bé nhỏ mong manh. Tác giả không có ý định khắc họa một bức tranh đầy đủ vì thế ở mỗi khổ thơ người đọc đều có ấn tượng về nỗi buồn trải dài theo không gian và thời gian của nhà thơ. Đặc biệt trong khổ thơ thứ hai, ta cảm nhận rõ nỗi buồn của Huy Cận đang thấm sâu vào cảnh vật."Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,Đâu tiếng làng xa vãn chợ xuống, trời lên sâu chót vót;Sông dài, trời rộng, bến cô liêu."Tràng Giang được Huy Cận sáng tác vào một buổi chiều tà, khi ngồi ở bến Chèm ngắm cảnh sông nước mênh mang, buồn vắng. Giữa không gian "tràng giang" dài, rộng nổi lên một gò đất cát nổi cao ở giữa sông. Cặp từ láy "lơ thơ" và đìu hiu" đã đặc tả khung cảnh vắng lặng, hiu quạnh, xa vắng, ẩn chứa trong đó là sự buồn bã, cô đơn, lẻ loi. Sự đơn độc, lạc lõng của con người giữa cuộc đời cũng giống như cồn nhỏ trơ trọi giữa dòng sông dài rộng mênh mông, xung quanh toàn là sóng nước. Câu thơ "Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều" có thể hiểu theo hai cách, một là ở đâu đó phía xa có tiếng chợ chiều đã vãn, hai là không có tiếng chợ chiều đã vãn. Chợ chiều ở quê xưa luôn mang một nét đặc trưng đó là sự buồn tẻ, nhạt nhẽo, vô vị, không hề có sự nhộn nhịp, náo nhiệt hay hào hứng như chợ vào buổi sáng. Thời điểm sắp kết thúc một ngày đã mang lại cảm giác gì đó tiếc nuối, hụt hẫng, mọi hoạt động sống ban ngày đang dần kết thúc. Ấy vậy mà ngay cả tiếng chợ chiều đã vãn cũng không còn, tất cả như quay lưng lại với không gian, ôm mình trong vắng lặng, cô tịch. Không chỉ trong khổ thơ thứ hai này mà hầu như trong cả bài thơ Tràng Giang của Huy Cận, dù cố gắng tìm kiếm nhưng ông lại bất lực trong việc tìm ra bóng dáng sự sống của con người. Ở khổ thơ này không có tiếng chợ chiều, khổ thơ thứ ba thì không một chuyến đò và không một cây cầu. Bức tranh cuộc sống khi ấy chỉ còn là cảnh vật với trời đất mênh mông, xa vắng và nỗi buồn thấm đẫm."Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;Sông dài, trời rộng, bến cô liêu."Bên trên là những câu thơ có giá trị tạo hình đặc sắc, nếu như hai câu thơ trên, không gian đã mênh mông rợn ngợp thì đến đây không gian lại càng được rộng mở hơn, đẩy cao hơn, sâu hơn. Chiều sâu chót vót của bầu trời khiến người đọc ấn tượng với độ sâu thăm thẳm hun hút khôn cùng dường như vô tận. Giữa sông dài, trời rộng chỉ có bến nhỏ cô liêu chứng tỏ rằng, dù sông nước, trời đất có dài rộng bao nhiêu thì càng khiến cho cảnh thêm vắng lặng, cô liêu, lẻ loi bấy nhiêu. Nỗi buồn của con người khi ấy thấm đượm vào không gian ba chiều, con người thật bé nhỏ, rợn ngợp giữa trời đất bao la, rộng lớn, vĩnh hằng. Cuộc đời như một bến cô liêu, trơ trọi, vắng vẻ, lạc loài giữa cái mênh mông sông nước, trời thơ thứ hai kết thúc nhưng âm điệu trầm buồn vẫn dư vang và sâu lắng, điều đó thể hiện rằng nỗi buồn đã ngấm sâu trong lòng tạo vật và tâm hồn nhà thơ. Nhịp điệu và thanh điệu thể thơ thất ngôn chất chữa nỗi sầu mênh mang, trôi chảy triền miên. Khổ thơ gợi lên cho người đọc một nỗi buồn man mác và những suy nghĩ, chiêm nghiệm về nỗi cô đơn của con người giữa cuộc đời rộng Bên cạnh bài Phân tích khổ 2 bài Tràng giang của Huy Cận, các em có thể tham khảo các bài sau để củng cố kiến thức của mình như Phân tích hai khổ đầu bài Tràng Giang, Phân tích cái tôi trữ tình trong bài Tràng giang, Phân tích cái tôi trữ tình trong bài Tràng giang, Phân tích ý nghĩa nhan đề bài Tràng Giang.
Top những bài văn phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang được chúng tôi tổng hợp dưới đây sẽ giúp các em học sinh có thể cảm nhận được khung cảnh thiên nhiên sông nước rộng lớn nhưng đìu hiu cùng với đó là sự tâm trạng chất chứa những nỗi buồn của người thi nhân trước cuộc đời rộng lớn. Dàn ý bài văn phân tích 2 khổ cuối bài Tràng GiangTop 12 bài văn mẫu phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang chọn lọc hay nhất!Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 1Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 2Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 3Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 4Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 5Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 6 Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 7Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 8Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 9Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 10 Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 11Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 12Lời kết Dàn ý bài văn phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang Mở bài *Giới thiệu tác giả, tác phẩm và 2 khổ thơ cuối của bài thơ Tràng giang. Thân bài *Khổ 3 Hình ảnh những cánh “bèo dạt” lại gợi lên cảm giác chia li đã xuất hiện từ đầu thi phẩm. Sự cô quạnh đã được đặc tả bằng cái không tồn tại không gian mênh mông, trong đó không có bất cứ dấu hiệu nào là của thế giới con người không cầu, không chuyến đò ngang. Nỗi buồn này như vậy không chỉ là nỗi buồn giữa trời rộng, sông dài mà còn là nỗi buồn về cuộc đời và nhân thế. *Khổ cuối – Hai câu đầu màu sắc cổ điển của các hình ảnh thiên nhiên Các hình ảnh mây, núi, gió được thể hiện rất rõ và nổi bật qua đoạn thơ Hình ảnh lớp mây thể hiện nỗi buồn của tác giả vô bờ Hình ảnh cánh chim lẻ loi, thể hiện nỗi buồn của tác giả thêm sâu nặng Hình ảnh cánh chim không chỉ báo hiệu hoàng hôn mà còn chỉ cái tôi nhỏ nhoi, cô độc của tác giả – Hai câu cuối Nhà thơ có cảm giác nhớ quê hương khi đứng trước cảnh thiên nhiên Nỗi buồn của Huy Cận được thể hiện rất sâu sắc và nổi bật Khát vọng sự đẹp đẽ, tươi đẹp về quê hương đất nước, góp sức mình cho quê hương, đất nước Kết bài *Khẳng định giá trị và nêu cảm nhận về hai khổ thơ cuối của bài thơ Tràng giang. Top 12 bài văn mẫu phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang chọn lọc hay nhất! Dưới đây là top 12 bài văn mẫu phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang chọn lọc hay nhất dành cho các em học sinh tham khảo! Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 1 Có nhà phê bình nào đó đã tinh tế nhận xét rằng Thơ Huy Cận không phải rượu rót vào chén tức là không say nồng mà là men đang lên; không phải hoa trên cành tức không khoe sắc rực rỡ mà là nhựa đang chuyển. Đúng thế! Cái hồn thơ bề ngoài tưởng lặng lẽ mà rất cao, rất rộng trong thơ ông không dễ gì nắm bắt. Đọc “Tràng giang” – bài thơ trang trọng, cổ kính, đậm đà cốt cách Đường thi mà giản dị mới lạ, độc đáo in rõ dấu ấn của thơ lãng mạn đương thời – mới thấy nhận định trên là đúng. Là Tràng Giang khổ nào cũng dập dềnh sóng nước, Là tâm trạng, khổ nào cũng lặng lẽ u buồn. Hai khổ cuối của bài thơ đã góp phần tạo nên điều ấy Bèo dạt về đâu hàng nối hàng; Mênh mông không một chuyến đò ngang … Lòng quê dợn dợn vời non nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Âm hưởng trầm trầm, chất ngất u buồn của những câu thơ đầu tiên lan rộng đến hai khổ cuối. Từ một cành củi khô ở trước đến hình ảnh “bèo dạt” vô định vô phương ở sau đều gợi lên sự chia li “tan” mà không “hợp”. Bèo dạt về đâu hàng nối hàng; Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Trước cảnh “mênh mông” sông dài trời rộng, cánh bèo xanh nổi như nét điểm xuyết gợi lên cả kiếp người bé nhỏ và vô định. Hình ảnh không phải mới, vốn dĩ đã xuất hiện khá nhiều trong ca dao và thơ cổ nhưng đặt trong dòng “Tràng giang” vẫn đủ sức khiến người thưởng thức cảm nhận rõ rệt thêm cái mênh mông của đất trời, cái xa vắng của thời gian, cái vô cùng của thiên nhiên tạo hóa. Cảnh bao la nhưng vắng bặt bóng dáng con người. Điệp từ “không” như điểm nhấn cho sự vắng ở đây. Song nhưng không có “đò”, không hề có cảnh “cô chu trấn nhật các sa miên” hãy “bến My Lăng nằm không thuyền đợi khách”. Cả dáng cầu nghiêng nghiêng, “cầu bao nhiêu nhịp thương mình bấy nhiêu” cũng không hề xuất hiện, tất cả đều “lặng lẽ”, chỉ có thiên nhiên “bờ xanh” nối tiếp thiên nhiên bãi vàng. Gam màu lạnh. Cảnh quạnh quẽ càng thêm quạnh quẽ, u buồn càng chất ngất u buồn hơn. Cánh bèo trôi hay chính con người đang lạc loài giữa cái mênh mông của đất trời, cái xa vắng của thời gian? Huy Cận là một nhà thơ mới, ảnh hưởng khá nhiều dòng thơ lãng mạn Pháp. Thế nhưng, ông còn là người thuộc nhiều, ảnh hưởng nhiều phong cách trang trọng, cổ kính của thơ Đường. Cốt cách ấy được thể hiện rõ nét trong khổ thơ cuối Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Bậc thánh thi Đỗ Phủ đời Đường lại có câu Giang giang ba lãng kiêm thiên dũng Tái thượng phong vân tiếp địa âm. Thu hứng Được Nguyễn Công Trứ dịch một cách tài hoa rằng Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm Mặt đất mây đùn cửa ải xa. Ý thơ của Đỗ Phủ đã được tái hiện độc đáo qua ngòi bút của Huy Cận Lớp lớp mây cao đùn núi bạc. Từ láy “lớp lớp” khiên mây dày đặc thêm, nhiều tầng nhiều lớp thêm, nên khiến núi ánh lên sắc bạc huyền hoặc như trong mộng. Tứ thơ cao nhã lắm thay! Trong cái tĩnh gần như tuyệt đối của trang thơ, cánh chim có lẽ là chút hồn động nhất. Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa Đã là “cánh nhỏ” mà lại chao nghiêng nên nét thanh mảnh của cánh chim càng nâng thêm một bậc. Sắc hoàng hôn bát ngát trên trang thơ, cánh chim bé bỏng nghiêng chao gợi lên niềm xúc cảm? Sẽ chẳng bao giờ ta quên được ý thơ…Giữa không gian cô tịch, ngẩng nhìn lên cao rồi lại cúi trông mặt nước Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Tư thế ấy có khiến ta liên tưởng đến Lý Bạch “Cử đầu vọng minh nguyệt – Đê đầu tư cố hương?”. Âm hưởng hai câu thơ Đường thi tuyệt tác của Thôi Hiệu phảng phất ở đây Nhật mộ hương quan hà xứ thị Yên ba giang thượng sử nhân sầu. Thế nhưng Thôi Hiệu phải có “khói sóng” mới “buồn lòng ai”. Còn nhà thơ của chúng ta “không khói hoàng hôn” mà “lòng quê” vẫn “dợn dợn vời con nước”! Từ láy “dợn dợn” và từ “vời” khiến nỗi buồn triền miên, xa xôi, dàn trải mãi đến vô tận, đến khôn cùng! Nhận xét về Huy Cận, nhà phê bình Hoài Thanh từng viết “Huy Cận có lẽ đã sống một cuộc đời rất bình thường, nhưng ông luôn lắng nghe mình sống để ghi lấy cái nhịp nhàng lặng lẽ của thế giới bên trong”. Đọc những vần thơ của thi nhân, chỉ mong cảm nhận và hiểu thêm một chút về con người thơ ấy. Sau khi phân tích 2 khổ cuối bài Tràng giang, chúng ta sẽ hi vọng một điều rằng “Tràng giang” sẽ còn mãi trôi, lấp lánh trên thi đàn Việt Nam, mãi trôi để nhớ để thương trong lòng người đọc. Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 2 Khác với hồn thơ sôi nổi, nhiệt huyết gắn với công cuộc đổi mới sau cách mạng tháng 8. Thơ Huy Cận những năm trước cách mạng lại mang nét u sầu, buồn bã trước thời cuộc. Chẳng thế mà “Tràng giang” ra đời lại khắc họa nét cô đơn của cá thể trước không gian bao la của thiên nhiên. Cùng với nét u buồn khắc khoải trước không gian mênh mông, bài thơ còn là nỗi nhớ quê hương, thương đất nước đang chìm trong tang thương của thi sĩ qua hai khổ thơ cuối của bài. Bài thơ được sáng tác vào năm 1939 in lần đầu tiên trên báo “Ngày nay” sau đó in trong tập “Lửa thiêng” – tập thơ đầu tay của Huy Cận. Cũng chính tập thơ này đã đưa ông trở thành gương mặt tiêu biểu của phong trào “Thơ mới” thời kì đầu. Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng; Mênh mông không một chuyến đò ngang. Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Hình ảnh trong khổ thơ thứ ba đã bước đầu có chuyển động với động từ “dạt”, nhưng sự vật đi kèm với động từ này là “bèo”. “Bèo” vốn là hình ảnh tượng trưng cho sự bấp bênh, chìm nổi, không có nơi ở ổn định. Đã thế cụm từ “hàng nối hàng” càng diễn tả sự vô định, chông chênh khi hàng này đến hàng khác “nối đuôi” nhau. Không gian đối lập với thực tại của cảnh vật. Tác giả mong ngóng có thể nhìn thấy chuyến đò để cảm nhận được sự sống. Nhưng đáp lại sự mong chờ ấy là “không một chuyến đò ngang”. Ở khổ thơ này, thi sĩ sử dụng nhiều từ phủ định “không đò” và giờ tiếp đến là “không cầu”. Hình ảnh chiếc cầu gợi lên dáng vẻ miền quê, mang nỗi niềm “thân mật”. Nhưng vì hình ảnh này không có nên thành ra cảm giác xa lạ, cô đơn được cảm nhận rõ. Với câu thơ cuối của khổ tác giả sử dụng nhiều màu sắc để chấm phá cho bức tranh. “Bờ xanh tiếp bãi vàng” – sắc tranh tươi sáng, nổi bật nhưng đi kèm với từ láy “lặng lẽ” làm chìm màu sắc này xuống. Giờ đây hai hình ảnh này không còn được tươi tắn như màu sắc ban đầu của nó. Từ láy này cũng làm cho không khí đìu hiu “lây lan” từ vật này sang vật khác. Tất cả sự vật đều nhấn chìm trong cô độc. Nếu khổ thơ thứ 3 là bức tranh thiên nhiên buồn, vắng lặng thì khổ thơ cuối cùng chính là tâm tư, tấm lòng của thi sĩ Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa. Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Xuyên suốt bài thơ tác giả liên tục sử dụng thủ pháp nghệ thuật là từ láy. “Lớp lớp” – chồng chất lên nhau, “đùn” là đè lên làm cho một vật gì đó hạ thấp xuống. Như vậy, với câu thơ đầu khổ bốn tác giả lại vẽ tiếp bức tranh quê hương với hình ảnh rộng lớn nhiều lớp mây đè lên núi bạc. Hình ảnh “chim nghiêng cánh nhỏ” gợi cảm giác nhỏ bé, bơ vơ. “Nghiêng” – không vững vàng. Hình ảnh này đối lập với vế ở sau “bóng chiều sa”. Trên nền bóng chiều rộng lớn là hình ảnh cánh chim nhỏ lo âu, còn đang mơ hồ cho con đường tìm nơi trú của mình. Hình ảnh cánh chim này đã từng bắt gặp trong “Quyện điểu quy lân tầm túc thụ” Mộ – Hồ Chí Minh, tạm dịch “Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ”. Đến với câu thơ thứ ba tác giả đã nói lên nỗi lòng nhớ quê của mình. “Dợn dợn” là gợi lên, dấy lên, có nỗi niềm khó nói. Cứ mỗi khi nhìn thấy “con nước” là lòng yêu quê hương của tác giả lại dâng lên. Tuy nhiên, nét đặc sắc lại nằm ở câu thơ cuối cùng “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Hơn nghìn năm trước Thôi Hiệu cũng từng chạnh lòng nhớ quê mà thốt lên rằng Nhật mộ hương quan hà xứ thị Yên ba giang thượng sử nhân sầu Quê hương khuất bóng hoàng hôn Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai? Nỗi buồn của hai thi sĩ có một số điểm khác nhau. Ở Thôi Hiệu do nhìn thấy khói sóng trên dòng sông nên buồn và nhớ về quê nhà, còn ở Huy Cận không nhìn thấy khói nhưng nỗi nhớ nhà vẫn dâng lên da diết. Nếu như Thôi Hiệu nhớ nhà là do đang xa xứ, đang ở xứ người còn nỗi nhớ của Huy Cận xuất phát từ một người đang đứng trên mảnh đất của mình nhưng bơ vơ, lạc lõng. Nỗi nhớ thương cũng xuất phát từ sự bất lực, ngán ngẩm của bản thân thi sĩ trước thời cuộc. Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 3 Huy Cận là gương mặt nhà thơ tiêu biểu trong phong trào Thơ mới của Việt Nam. Trước cách mạng tháng Tám, thơ ông chất chứa một nỗi buồn man mác, đó là nỗi buồn của người trí thức luôn đau đáu một nỗi niềm trước thời thế loạn lạc. “Tràng giang” được coi là bài thơ tiêu biểu nhất cho tài năng và phong cách sáng tác ấy. Đặc biệt, trong 2 khổ thơ cuối của bài, nhà thơ đã tái hiện đầy khắc khoải nỗi buồn thương, sầu não của một con người đang cảm thấy lạc lõng, cô độc giữa cuộc đời rộng lớn. Nếu như những khổ thơ đầu, nhà thơ Huy Cận tập trung miêu tả khung cảnh sông nước, mây trời rộng lớn, rợn ngợp thì ở hai khổ thơ cuối, nhà thơ đã trực tiếp bộc lộ tâm trạng phiền não và những suy nghĩ sâu sắc về cuộc đời, về kiếp người Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng; Mênh mông không một chuyến đò ngang. Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Hình ảnh “bèo dạt” không chỉ mang ý nghĩa tả thực về cảnh vật mà nhà thơ bắt gặp trên sông mà còn gợi ra sự nhỏ bé, trôi nổi lênh đênh của những kiếp người giữa cuộc đời rộng lớn. Sông nước mênh mông, rộng lớn nhưng buồn vắng đến cùng cực “Mênh mông không một chuyến đò ngang”, dù cố gắng tìm kiếm nhưng nhà thơ không tìm thấy dù một “chút niềm thân mật”. Câu thơ “Không cầu gợi chút niềm thân mật” tựa như một tiếng thở dài đầy bất lực của nhà thơ khi chẳng thể tìm kiếm được một chút hơi ấm của con người, của sự sống. Điệp từ “không” đã cực tả sự vắng lặng của không gian, nó phủ định tất cả những gì gắn kết giữa con người và thiên nhiên sông nước, không có con đò, không cầu, không chút niềm thân mật. Tất cả mở ra trước mắt của nhà thơ chỉ có sự rộng lớn, hoang vắng đến rợn ngợp. Từ láy “lặng lẽ” cực tả sự vắng lặng đồng thời cũng gợi ra sự tồn tại nhạt nhòa, không mang đến ấn tượng sâu đậm của “bờ xanh”, “bãi vàng”. Sự xuất hiện của bờ, bãi hai bên sông cùng những hình ảnh gợi liên tưởng đến sự sống xanh, vàng vẫn không đủ để làm cho bức tranh sông nước bớt đi phần hiu quạnh, trống vắng bởi bờ xanh, bãi vàng chỉ là những cảnh vật vô tri, nó không “chút thân mật”, giao hòa gì với nhau. Và cũng bởi lẽ, khi con người mang nỗi sầu muộn thì cảnh vật cũng trở nên ảm đạm, đìu hiu hơn giống như nhà thơ Nguyễn Du từng nói “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Giữa trời đất rộng lớn, mênh mông nhưng nhà thơ Huy Cận lại không tìm được một tiếng nói đồng cảm, tri âm, không có một ai có thể thấu hiểu được tâm trạng và những nỗi buồn đang giăng kín trong tâm hồn nhà thơ. Nỗi phiền muộn, u sầu không thể giãi bày, chỉ có thể tự mình giữ lấy nên nó càng nhức nhối, khắc khoải. Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa. Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Không thể tìm thấy một chút giao cảm từ khung cảnh sông nước, nhà thơ Huy Cận hướng sự chú ý của mình đến không gian rộng lớn, khoáng đạt của hoàng hôn. Từ láy “lớp lớp” gợi liên tưởng đến rất nhiều sự vật chất chồng lên nhau. “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc” mở ra khung cảnh huy hoàng, tráng lệ với những đám mây bàng đan xen, xếp chồng lên nhau. Động từ “đùn” gợi ra sự tiếp diễn, dâng lên ngày càng mạnh mẽ. Chúng ta cũng từng bắt gặp trong thơ Nguyễn Trãi “Rồi hóng mát thuở ngày trường Hòe lục đùn đùn tán rợp giương” Câu thơ “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc ” thật đẹp nhưng cũng thật buồn bởi nó càng tô đậm thêm sự trống trải, hoang vắng. Hình ảnh những đám mây lớp lớp còn gợi ra những cảm xúc bộn bề cứ khoắc khoải, xếp chồng lên nhau. Sự xuất hiện của hình ảnh cánh chim trong “bóng chiều xa” càng tô đậm nỗi trống vắng, cô đơn trong tâm hồn của nhà thơ. Giữa khung cảnh hùng vĩ, huy hoàng của những đám mây bàng bạc, cánh chim càng trở nên nhỏ bé, nó cũng giống với tâm trạng cô đơn, lạc lõng của nhà thơ giữa cuộc đời rộng lớn. “Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” Từ láy “dợn dợn” là sáng tạo đặc biệt của nhà thơ Huy Cận, khi được hô ứng với “vời con nước” đã khắc họa sống động nỗi niềm bâng khuâng, cô quạnh của một con người đang nhớ về quê hương. Khói hoàng hôn trong thơ ca cổ điển thường là dấu hiệu gợi nhắc con người ta nhớ về quê hương, trong thơ Thôi Hiệu có viết “Nhật mộ hương quan hà xứ thị/Yên ba giang thượng sử nhân sầu”. Thế nhưng, nếu những thi nhân xưa nhìn khói trên sông nhớ về quê nhà thì nỗi nhớ của Huy Cận da diết, khắc khoải hơn, nhà thơ không nhìn khói hoàng hôn vẫn nhớ nhà. Có lẽ rằng nỗi nhớ luôn thường trực trong lòng nhà thơ nên dù không có “chất xúc tác”, nhà thơ vẫn khôn nguôi một tấm lòng quê. Hai khổ thơ cuối của bài thơ Tràng giang không chỉ mở ra trước mắt chúng ta khung cảnh sông nước mênh mông, rợn ngợp mà còn bộc lộ nỗi lòng sầu muộn của người thi nhân. Hai khổ thơ gieo vào lòng người đọc một nỗi buồn man mác, thế nhưng nỗi buồn ấy cũng thật đẹp bởi đó đều là những cảm xúc quen thuộc, có phần mơ hồ mà chúng ta vẫn thường trải qua, thế nhưng qua ngòi bút của Huy Cận nó lại thật thơ, thật da diết. Như nhà phê bình Hoài Thanh cũng từng nhận định “Huy Cận lượm lặt những chút buồn rơi rác để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não. Người đời sẽ ngạc nhiên vì không ngờ với một ít cát bụi tầm thường thì người lại có thể đúc thành bao châu ngọc”. Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 4 Độc giả biết đến hồn thơ của Huy Cận trước cách mạng là một hồn thơ sầu, buồn trước nỗi sầu nhân thế. Đến với bài thơ “Tràng giang”, ta lại bắt gặp một nỗi buồn, cô đơn sâu sắc của tác giả trước cuộc đời. Đặc biệt, nỗi sầu buồn ấy được làm nổi bật trong hai khổ thơ cuối của bài thơ. Khổ thơ thứ 3 đã gợi ra hình ảnh một kiếp người nhỏ bé, vô định, chênh vênh trước dòng đời mang nét cổ kính “Bèo dạt về đâu hàng nối hàng Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng” Hình ảnh “bèo dạt” như gợi bão tố của cuộc đời đang xô đẩy số phận một con người nhỏ bé như hình ảnh bèo cô độc, bị xô đẩy. Con người như cùng bơ vơ trước cuộc đời. Điệp từ “không” nhấn mạnh sự trống vắng, thiếu hụt, mất mát. Nó góp phần phủ định hiệu quả. Dòng sông là bức tường ngăn cách, phương tiện đi qua nó là “đò”, “cầu”, là cái khiến con người xóa bớt sự cô đơn. Nhưng ở đầy, đã có sự phủ định tuyệt đối “không cầu”, “không đò”, đó lại là sự khẳng định không có bất kì tín hiệu, mối liên hệ nào để con người gần gũi nhau, giá trị sống của con người đang bị hoàn toàn tiêu diệt. Nếu bị tước đoạt những thứ giúp con người đến với nhau thì không cuộc sống không có giá trị. Phương tiện giúp con người xóa đi sự xa cách mà ở hoàn cảnh này lại hoàn toàn không có. Sự sống của con người dường như bị tiêu diệt, vì sống giữa cuộc đời mà không có sự liên hệ, cảm thông hay chia sẻ. Hình ảnh “bờ xanh’, “bãi vàng” là hai sự vật vốn dĩ đứng cạnh nhau mà lại không có một mối liên hệ ràng buộc nào. “Lặng lẽ” chỉ hoạt động âm thầm, kín đáo, riêng lẻ. Tác giả đã gợi ra bức tranh cảnh vật hoang vắng, thiếu hơi ấm tình người. Khổ thơ thứ 4 gợi ra cả một bầu tâm sự của tác giả “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ, bóng chiều sa Lòng quê dợn dợn vờn con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” Hình ảnh “mây cao”, “núi bạc” mang hình ảnh kì vĩ, mang tầm vóc lớn. Nhà thơ đã lựa chọn sử dụng những hình ảnh lớn lao, kì vĩ, mượn từ “đùn” của nhà thơ Đường, đó là sự chuyển động từ bên trong đẩy ra bên ngoài từng lớp mây trắng cứ bung nở, tỏa ra thành một núi bạc. “Lớp lớp” là nhiều, chồng lên nhau, không có điểm kết thúc. Hình ảnh mây trắng hết lớp này đến lớp khác như một cây bút bông nở lên trên trời cao. Mây trông như những ngọn núi bạc, mây là núi, núi tựa mây. Hình ảnh “cánh chim” là một công thức ước lệ trong thơ cổ, lấy cánh chim để gọi buổi chiều, nói hộ tâm trạng con người. Hình ảnh “cánh chim” gợi sự sống cho cảnh vật, những cánh chim nhỏ lại nghiêng đi, không chịu được sức nặng của bóng chiều đang xa xuống, tạo sự đối lập giữa cảnh bầu trời cao rộng hùng vĩ ở câu trên và cánh chim nhỏ bé ở câu dưới. Câu thơ cuối cùng “không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” chính là tâm sự nhớ quê hương mà tác giả gửi gắm. Cách thể hiện nỗi nhớ nhà không cần có yếu tố gợi nhớ mà vẫn nhớ vì nỗi nhớ luôn thường trực ở trong tâm hồn thi sĩ. Huy Cận đứng trước dòng sông của đất nước, thể hiện tâm sự của nhà thơ đối với đất nước. Người đọc nhận ra được sự cô độc của tác giả do mất quê hương, đây là một tâm trạng thầm kín, thể hiện tình yêu nước của nhà thơ. “Tràng giang” là một bức tranh thiên nhiên đẹp nhưng buồn, đặc biệt hai khổ thơ cuối thể hiện tình yêu quê hương, đất nước của nhà thơ. Tình yêu ấy mang tâm sự thầm kín của tác giả. Trong đó còn có sự kết hợp giữa hiện đại và cổ điển, xứng đáng là bài thơ hay nhất của tập “Lửa thiêng”. Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 5 Nhận xét về Thơ Mới, trong tuyển tập Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh viết “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy cận. Cả trời thực, trời mộng vẫn neo neo theo hồn ta”. Nỗi buồn đó thể hiện sự sầu muộn với những nỗi sầu nhân thế, tâm sự thầm kín, tình yêu quê hương, đất nước của Huy Cận thể hiện rõ qua hai khổ thơ cuối của bài thơ Tràng Giang Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng Mênh mông không một chuyến đò ngang. Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa. Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Khổ thơ thứ ba hiện lên trước mắt người đọc một khung cảnh hắt hiu, dường như thiên nhiên nơi đây không giống với sự trông ngóng của mọi người Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng; Mênh mông không một chuyến đò ngang. Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Từng cụm bèo lững lờ trôi vô định trên sông không biết đời mình rồi sẽ đi đâu về đâu, bỗng tới đây ta lại nhớ đến câu ca dao Thân em như thể bèo trôi Sóng dập, gió dồi biết tựa vào đâu? Thân em như thể trái chanh Lắt lẻo trên cành nhiều kẻ ước ao. Hay là hình ảnh cánh bèo lẻ loi, đơn độc, lênh đênh trên mặt nước gợi đến thân phận “cánh bèo mặt nước” Nguyễn Du khiến ta liên tưởng đến sự tan tác, chia lìa, phiêu bạt “Phận bèo bao quản nước sa Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh” Nguyễn Du Như vậy, ta có thể thấy được bối cảnh không gian mênh mông sông nước giữa trời bể bao la vào độ chiều tà. Ngắm nhìn những đám bèo trôi lênh đênh vô định, không có phương hướng khiến cho cả thi nhân lẫn người đọc cảm thấy nôn nao, man mác buồn – một nỗi buồn không biết tỏ bày cùng ai, chỉ khi sống trong thơ, chìm đắm trong thế giới ngôn từ mới có thể thốt lên được. Điệp từ “không” nhấn mạnh cho sự vắng vẻ ở nơi đây. Trong câu thơ từ láy “mênh mông” gợi lên sự sầu muộn bao la rộng lớn trước cảnh sông khi chiều tà nhưng không có một con đò nhỏ để qua sông, không hề xuất hiện cảnh “bến My Lăng nằm không thuyền đợi khách” hay bóng dáng nghiêng nghiêng cầu tre “cầu bao nhiêu nhịp thương mình bấy nhiêu”, tất cả đều “lặng lẽ”, chỉ có thiên nhiên “bờ xanh” nối tiếp thiên nhiên bãi vàng. Hai câu cuối của khổ thơ là bức tranh thiên nhiên càng sầu bi hơn được vẽ lên dường như đối lập giữa hai bên bờ sông. Nó giống như là hai thế giới không có bất kỳ liên hệ nào với nhau. Dẫu ở gần mà cũng thành xa xôi không thể với tới giống câu nói “gần ngay trước mắt xa tận chân trời”. Hai bên bờ chạy song song với nhau, cùng“lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”, không một hề có chút thân mật hay giao hòa nào cả. Khung cảnh thiên nhiên lúc bấy giờ giống như chính tâm trạng của thi nhân vậy. Với nghệ thuật đối lập giữa không gian rộng lớn và con người bé nhỏ, không gian càng mênh mông bao nhiêu thì con người càng cảm thấy cô đơn bé nhỏ, lạc lõng giữa dòng đời bấy nhiêu. Nỗi cô đơn cứ thế xếp chồng lên cao, làm cho con người ta càng cảm thấy nhỏ bé giữa thiên nhiên, càng khao khát hơn sự đồng cảm, yêu thương. Từ đây ta có thể cảm nhận được cảm giác bất lực của con người không thể tìm được một người bạn tâm giao, một tri âm tri kỷ của đời mình. Như vậy, “Huy Cận lượm lặt những chút buồn rơi rác để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não. Người đời sẽ ngạc nhiên vì không ngờ với một ít cát bụi tầm thường thì người lại có thể đúc thành bao châu ngọc. Ai có ngờ những bước chân đã tan trên đường kia còn ghi lại trong văn thơ những dấu tích không bao giờ tan được…”. Quay trở lại với câu thơ cuối cùng của khổ thơ “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”. Một gam màu lạnh được vẽ nên cùng sự yên lặng khiến cho cảnh càng thêm hiu quạnh, u hoài nay càng thêm ảm đạm hơn… Suy cho cùng, đó là cánh bèo đang lờ lững trôi hay là chính con người đang lạc lõng giữa sự mênh mông của trời đất, của sự ra rời cuộc đời? Là một nhà thơ mới Huy Cận dường như phong cách sáng tác của ông nghiêng khá nhiều về dòng thơ lãng mạn Pháp. Điều này thể hiện khá rõ nét qua khổ thơ cuối của bài thơ. Nội dung của khổ thơ này là miêu tả về tâm trạng của nhân vật trữ tình vào khoảnh khắc hoàng hôn. Nhắc đến hoàng hôn trong thơ cổ là nhắc đến sự gắn liền với tình quê, cố hương, là nỗi nhớ quê hương da diết. Ví dụ như Bà huyện Thanh Quan cũng đã sử dụng hình ảnh hoàng hôn để bày tỏ nỗi nhớ quê hương của mình qua bài thơ “Qua đèo ngang” “Dừng chân đứng lại trời non nước Một mảnh tình riêng ta với ta”. Bà huyện Thanh Quan Hay ở một diễn biến khác, khi đứng ở trên lầu Hoàng Hạc nhìn thấy khói sóng phủ mờ trên dòng sông buổi hoàng hôn mà lòng Thôi Hiệu – nhà thơ lỗi lạc đời Đường phải thổn thức mà thốt nên rằng “Quê hương khuất bóng hoàng hôn, Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?” Lầu Hoàng Hạc – Thôi Hiệu Huy Cận đã lựa chọn thi liệu đầy chất thơ để vẽ lên một tình quê vơi đầy đó là cánh chim chiều hay là lớp lớp núi mây bạc. Dẫu không có khói sóng phủ mờ giống như Thôi Hiệu, không có tiếng chim kêu quốc quốc, “thương nhà mỏi miệng cái gia gia”Qua đèo ngang mà vẫn thương nhớ quê nhà da diết thông qua những câu thơ cuối Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Câu thơ đầy hình tượng và giàu cảm xúc khiến cho ta cảm thấy dường như một bức tranh đang được vẽ nên trước mắt ta. Hồn thơ mang tính chất của thơ Đường như thấm vào từng câu từng chữ. Ai đã từng xa quê, trong khoảnh khắc chiều tà, lúc hoàng hôn buông xuống mới thấy hết cái đẹp nhưng buồn nằm trong những bài thơ nói về tình quê, lòng quê. Đến đây, ngược dòng lịch sử quay trở lại với Truyện Kiều, Nguyễn Du đưa ta phiêu vào cảm xúc của Thúy Kiều khi “Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng” Hay “Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn” Chiều hôm nhớ nhà – Bà huyện Thanh Quan. Như vậy, hoàng hôn trong bất cứ bài thơ nào cũng đều man mác đượm buồn và gắn liền với nỗi nhớ quê nhà da diết. Đến đây, Huy Cận cũng là “một người của đời, một người ở giữa loài người”, một thi sĩ trong phong trào thơ mới như đưa ta bâng khuâng, du nhập hồn mình vào cùng “Tràng giang”, cùng ông lặng lẽ trầm ngâm nhìn theo “vời con nước” để rồi hiện lên nỗi “nhớ nhà”, nhớ quê hương. Tình yêu quê hương trong người thi nhân cháy bỏng và vô cùng da diết. Huy Cận giống như B. Shelly từng nói “thi sĩ là một con chim sơn ca ngồi trong bóng tối hát lên những tiếng êm dịu để làm vui cho sự cô độc của chính mình.” Thơ Huy Cận buồn, nhưng nó như nâng dậy tâm hồn người đọc, nó khơi dậy những gì đẹp đẽ nhất, những gì tiềm ẩn nơi đáy sâu tâm hồn con người để vươn lên tới những cái cao cả hơn. Đọc “Tràng giang” ta cảm nhận sâu hơn về chân lý ấy. Khổ thơ cuối là ở sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa thơ ca truyền thống và thơ ca hiện đại là sự kết hợp những nét cổ điển trong thơ Đường với cái tôi cá nhân xuất hiện trong phong trào thơ mới. Với việc sử dụng nhuần nhuyễn những từ láy và những câu đảo ngữ, Huy Cận đã thành công trong việc miêu tả cảm xúc vũ trụ. Điều này thể hiện qua vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, sự thơ mộng nhưng không quên thấm đượm nỗi buồn tâm trạng của người thi sĩ. Đó chính là “nỗi buồn sông núi, nỗi buồn về đất nước” Huy Cận. Nỗi buồn đó được khơi nguồn từ con tim ra ngoại cảnh, rồi từ ngoại cảnh trở về tim, lặng lẽ mà sâu nặng, yên tĩnh mà mãnh liệt vô cùng “Một chiếc linh hồn nhỏ Mang mang thiên cổ sầu” Ê chề – Huy Cận Câu đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Cảm hứng của lời đề từ này dường như dàn trải trong ba khổ thơ đầu, để rồi cuối cùng lại hội tụ và kết tinh vào trong khổ thơ cuối – khổ thơ có thể được xem là một bài thơ tứ tuyệt hay, bộc lộ chân thực và sâu đậm nhất về tình yêu quê hương của người thi sĩ. Thể thơ thất ngôn trong Tràng giang mang vẻ đẹp của sự cổ kính và trang trọng. Âm điệu đoạn thơ trầm bổng, lúc cao lúc thấp như muôn ngàn sóng điệp điệp gợn buồn trong lòng bạn đọc bấy lâu nay. Cảnh sắc và vẻ đẹp của hoàng hôn đưa ta phiêu vào nỗi nhớ quê hương da diết, mang theo những cung bậc cảm xúc của tâm hồn ta… “Tràng giang” được xem là một trong những bài thơ hay nhất của nhà thơ Huy Cận trong tập “Lửa thiêng”. Đọc Tràng Giang, ta càng hiểu hơn cái tôi “ngẩn ngơ buồn” của tác giả. Thông qua đó ta cũng hiểu được thơ là cây đàn đồng điệu của tâm hồn, là nhịp thở con tim, là diễn tả rất thành công mọi cung bậc cảm xúc của con người, cảnh vật dù chỉ qua vài ý thơ ngắn ngủi. Nghệ thuật ngôn từ trong thơ Huy Cận được nâng lên một tầng cao mới như Xuân Diệu nhận xét “Dường như ở đây nhà thơ đã toát ra một mảng hương sắc sâu xa, cao đẹp nhất của tâm hồn mình”. Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 6 Nhắc đến Huy Cận là nhắc đến hồn thơ u sầu, trong thơ ông luôn chất chứa những nỗi niềm của một kẻ sĩ vương nỗi sầu nhân thế. Một trong những bài thơ tiêu biểu cho phong cách ấy của ông là “Tràng giang”, tác phẩm được viết vào mùa thu năm 1939. Hai khổ thơ cuối bài “Tràng giang” là những khổ hay nhất bài thơ, diễn tả nỗi buồn lữ thứ trước cảnh hoàng hôn rợn ngợp của thi nhân. “Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;” Không còn là không gian rộng lớn, hùng vĩ, mở ra với nhiều chiều kích như khổ thơ trước, với khổ thơ thứ ba, tác giả đưa tầm mắt về hình ảnh bèo dạt trên sông nước. Những cách bèo nổi trôi vô định, không biết đi đâu về đâu. Cánh bèo nhỏ bé giữa dòng mênh mang phải chẳng là tượng trưng cho những kiếp người nhỏ bé, bơ vơ, bất lực giữa dòng đời? Đọc câu thơ, ta như cảm nhận được sự bất lực, nỗi bế tắc của thi nhân. Những cánh bèo hàng nối hàng trôi dạt hay là những kiếp người “hàng nối hàng” đang lạc lõng trước cuộc đời. Họ không biết rồi sẽ đi về đâu, cánh bèo mặc dòng nước cuốn trôi như chính cuộc đời họ đang mặc dòng đời xô đẩy. “Mênh mông không một chuyến đò ngang. Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.” Điệp từ “không” được sử dụng đầy tinh tế đã vẽ ra một không gian vắng lặng, hoang hoải. Dòng sông mênh mông sóng nước, rộng lớn là vậy mà chẳng có lấy một chuyến đò, một bóng hình của ai đó, cũng chẳng có lấy một cây cầu bắc ngang cho dòng người qua lại. Tất cả đều chênh vênh, người và sông như hai thế giới cùng một nỗi niềm tâm sự, khát khao tìm kẻ tâm giao mà chẳng có, càng hi vọng lại càng xa xôi. Thiên nhiên đẹp mà vắng bóng con người, mở ra một miền vắng lặng, lẻ loi. Nỗi cô đơn tự nhiên ngự trị khắp không gian, xâm chiếm lấy tâm hồn thi nhân. “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng” Trong cái nền của không gian không thanh âm ấy, những gam màu len lỏi xuất hiện “bờ xanh” tiếp “bãi vàng”, nhưng dẫu có màu xanh tươi mát hay sắc vàng ấm áp của bến bờ, cồn bãi thì cũng không khiến cho bức tranh thiên nhiên tươi mới hơn mà trái lại càng tô đậm thêm vẻ u tịch của một miền hoang hoải. Bất chợt ta tự hỏi do cảnh buồn hay lòng thi nhân đang sầu nỗi sầu nhân thế mà lời thơ, tứ thơ chất chứa những mệt nhoài? Bởi “Cảnh nào cảnh chẳng đeo Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Nguyễn Du Đưa tầm mắt lên, hướng về phía bầu trời cao rộng “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.” Những hình ảnh cổ điển “mây”, “cánh chim” được tác giả sử dụng kết hợp với các động từ “đùn”, “nghiêng”, “sa” đã diễn tả được cái hùng vĩ và sức sống tràn đầy của thiên nhiên. Những tầng mây “lớp lớp” chất chồng lên nhau tạo nên những dãy núi bạc khổng lồ, lơ lửng trên nền trời xanh ngắt. Một cảnh tượng thật hùng vĩ biết bao! Thiên nhiên lúc này không còn trong trạng thái tĩnh mịch nữa mà nét động dần thay thế. Mây đùn núi bạc trong ánh chiều, chim nghiêng cánh nhỏ mơ màng trong bóng hoàng hôn, tất cả tạo nên một không gian đẹp đẽ, rực rỡ và sống động. Tuy nhiên, trong khung cảnh ấy, ta vẫn thấy nét buồn, cô đơn của tâm hồn thi nhân khi bắt gặp hình ảnh “chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”. Cánh chim nhỏ bé, mỏng manh bay giữa mây cao, núi bạc, cô đơn giữa đất trời mênh mông, hùng vĩ tựa như hình ảnh thi nhân đang bơ vơ, chán ngán giữa dòng đời. Bởi thế mà nỗi buồn cứ thế trào dâng, miên man bất tận, thấm đượm trong cảnh, chất chứa trong tình. Có thể nói, tình quê là một tình cảm đáng trân trọng của các thi nhân dành cho quê hương, đất nước. Thôi Hiệu từng nhìn khói sóng trên sông mà nhớ nhà “Nhật mộ hương quan hà xứ thị Yên ba giang thượng sử nhân sầu.” Hay Lí Bạch từng nhìn trăng mà nhớ quê hương da diết “Cử đầu vọng minh nguyệt Đê đầu tư cố hương.” Người ta xa quê thì nhớ quê, nhưng với Huy Cận thì khác, tác giả đang đứng trên quê hương mà lại nhớ quê hương da diết “Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.” Từ láy “dợn dợn” gợi tả nét chuyển động diễn ra liên tục trong tâm khảm nhà thơ, một nỗi nhớ luôn thường trực khôn nguôi, đầy sâu sắc và ám ảnh. Dường như, không giây phút nào là thi nhân không nhớ đến quê hương, đất nước mình, đặc biệt là trong cảnh tổ quốc đang bị xâm lăng, giày xéo bởi quân thù. Có thể nói, hai khổ cuối bài thơ đã vẽ nên một bức tranh đẹp nhưng buồn sầu. Ẩn sâu trong từng con chữ là cái tôi thi sĩ cô đơn song lại chất chứa tình cảm sâu nặng, tha thiết với quê hương, đất nước. Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 7 Huy Cận là nhà thơ nổi bật của phong trào thơ mới và là một trong những cây đại thụ của thơ ca Việt Nam hiện đại. Phân tích hai khổ thơ cuối bài tràng giang ta sẽ thấy được cái đặc trưng đặc biệt của thơ Huy Cận. Ông thường được nhắc nhớ bởi hồn thơ của những nỗi sầu vạn cổ hay nhà thơ của những nỗi niềm khắc khoải không gian. Bài thơ “Tràng giang” là một trong những tác phẩm xuất sắc của Huy Cận, được in trong tập “Lửa thiêng”, tập thơ đầu tay nhưng đã thể hiện được cái “chín” trong sáng tác của ông. Bài thơ gợi mở không gian sông Hồng, đoạn bến Chèm vào mùa nước nổi. Thời điểm viết bài thơ Huy Cận đang là sinh viên của trường Cao đẳng Canh nông. Đứng trước cảnh sông nước mênh mông, ông thể hiện tâm trạng cô đơn, u sầu và sự lạc loài của số kiếp con người trước vũ trụ bao la, vô thủy, vô chung. Điều này người đọc có thể cảm nhận rõ nhất ở hai khổ cuối bài thơ. “Bèo giạt về đâu, hàng nối hàng; Mênh mông không một chuyến đò ngang. Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa. Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.” “Tràng giang” là một từ Hán Việt mang sắc thái cổ kính, trang trọng và gợi cho ta nhớ đến dòng sông li biệt từng gặp trong thơ Lí Bạch. Bên cạnh đó, vần “ang” trong hai từ khi đọc lên như vang vọng và gợi không gian mênh mông xa vắng, cái trải dài của bãi bờ sông nước. Vì vậy, ngay từ nhan đề, Huy Cận đã mở ra một cửa ngỏ nhìn vào cái vô biên. Hai chữ “Trường giang” ngắn gọn nhưng đã khái quát và phần nào đã làm rõ tư tưởng, thông điệp của nhà thơ muốn gửi gắm trong bài thơ. “Bông khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Chỉ một câu thơ nhưng Huy Cận đã gói trọn cảm hứng chủ đạo của cả tác phẩm. Đó là nỗi bâng khuâng, lòng thương nhớ của một con người bé nhỏ trước cảnh trời rộng sông dài. Đọc toàn bài thơ, ta thấy ở khổ thứ nhất nhà thơ hướng cái nhìn cảnh về những con sóng lăn tăn mặt sông, dừng mắt trên chiếc thuyền nhỏ lẻ loi, rồi một cảnh củi khô lạc loài giữa bốn bề sông nước; ở khổ thứ hai, Huy Cận đưa mắt ra xa hơn, rộng hơn với cái nhìn toàn cảnh mênh mông. Và đến khổ thứ ba, Huy Cận lại nhìn về dòng sông, như đang đưa mắt tìm kiếm những điều thân thuộc, chút hơi ấm cho tâm hồn đang cô đơn, lạnh giá. Nhưng khi phân tích hai khổ thơ cuối bài tràng giang ta thấy thiên nhiên dường như chỉ hờ hững trước những mong mỏi ấy của nhà thơ, bởi xung quanh bốn bề chỉ là vẻ đìu hiu, quạnh quẽ “Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng, Mênh mông không một chuyến đò ngang. Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”. Thay vì những thuyền, những cành củi khô hiện lên trong cái nhìn cận cảnh dòng sông ở khổ đầu; ở khổ thứ ba này hiện lên hình ảnh không kém phần buồn bã những cánh bèo trôi dạt lênh đênh. Dòng sông vốn đã “buồn điệp điệp”, sự xuất hiện của những cánh bèo trôi nổi càng làm cho con nước thêm hiu quạnh. Những cánh bèo dạt ấy là sự nối tiếp của hình ảnh “con thuyền xuôi mái” và “củi một cành khô” xuất hiện ở khổ thơ đầu. Và cũng từ đây, từ hình ảnh cánh bèo trôi dạt, cảm giác về kiếp người phù du vô định cũng được gợi ra. Phân tích hai khổ thơ cuối bài tràng giang ta thấy, câu thơ “Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng” được ngắt nhịp 2/2/1/2. Cách ngắt nhịp này thể hiện được sự dao động của sóng nước và cũng khắc họa trạng thái dập dềnh của những cánh bèo đang rôi dạt trên sông. Còn với hai chữ “về đâu” Huy Cận muốn nói lên sự mất phương hướng, sự hoang mang và những dự cảm bất an về số phận con người trong thế giới không có sự gắn kết, sẻ chia. Giữa cuộc đời trăm ngả, bộn bề sống nhưng cô đơn, con người không biết phải đi về đâu. Huy Cận không biết phải hỏi ai nên tự hỏi mình, nhưng không tìm thấy một lời giải đáp. Đứng trước cảnh trời nước bao lao, nhà thơ mang tâm tình hướng đến sự giao cảm với con người, mong rằng sẽ bớt cô đơn, bớt quạnh hiu. Nhưng làm sao có thể thấy được an ủi, khi “Mênh mông không một chuyến đò ngang/ Không cầu gợi chút niềm thân mật. Cái vẻ trống trải cô đơn của nhà thơ được tô đậm bổ hai từ phủ định “không” liên tiếp. Thực tế cây cầu hay con đò là những cảnh vật ta vẫn thường bắt gặp ở những niềm sông nước, bởi đó là phương tiện đi lại, phương tiện liên hệ, gặp giữa của con người. Nhưng ở đây nhà thơ lại không hề thấy xuất hiện. Không có cây cầu nối hai bờ sông nước để gần gũi, không có một chuyến đò để đón đưa khách qua sông. Mọi thứ chỉ là vẻ hoang vắng, là màu vàng màu xanh của bãi bờ tiếp nối nhau “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng” “Lặng lẽ” là từ láy gợi tả vẻ im lặng của không gian, cùng với hình ảnh “bờ xanh tiếp bãi” không gian đôi bờ tràng giang càng thêm hoang vắng, tiêu điều. Đọc câu thơ, người đọc có thể cảm nhận rõ dòng chảy lững lờ của con sông qua khúc này tới quãng khác, nhưng luôn giữ cái vẻ âm thầm, vắng lặng. Dòng chảy của sông Hồng lúc này thật khác với vẻ tươi vui, xanh biếc của sông Hương chảy về thành phố Huế trong tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Như vậy, khi phân tích hai khổ thơ cuối bài tràng giang mà trước nhất ở khổ thứ ba, ta thấy hiện ra một thế giới mang vẻ hững hờ, rời rạc. Và ở thế này, con người càng thêm thấm thía nỗi cô đơn hoang vắng tột cùng. Cái cô đơn âu sầu ấy như thấm vào từng câu chữ, từng hình ảnh trong khổ thơ. Nó phản chiếu nỗi cô đơn đã trở thành một căn bệnh của con người trong xã hội ở thế kỉ XX. Căn bệnh đã xuất hiện nhiều trong văn học Phương Tây Mỗi người đứng cô đơn trên trái đất Tim xuyên qua một tia nắng mặt trời Và chia li Chiều đã tắt Kết thúc bài thơ, Huy Cận vẽ nên cảnh hoàng hôn về trên vùng sông nước. Nỗi cô đơn vẫn còn tiếp nối và trải ra cùng những con sóng, lênh đênh theo những con thuyền, theo cành củi lạc loài, theo những cánh bèo trôi nổi và cho đến cuối cùng, lại kết thụ ở đoạn thơ cuối “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” Trong khổ thơ cuối bài “Tràng giang”, ta thấy Huy Cận chia đôi khổ thơ làm hai phần rõ rệt. Hai câu thơ trên gợi cảnh trời rộng bao la, hai câu cuối thì miêu tả cảnh sông dài. Mà song hành cùng với trời rộng, sông dài là nỗi cô đơn u sầu, là niềm nhớ, nỗi hoài hương da diết của thi nhân, đặc biệt là vào lúc hoàng hôn đang buông khép lại một ngày. Hai khổ thơ cuối bài tràng giang ta thấy Huy Cận thật tài hoa khi vẽ nên một nét chấm phá đậm dấu ấn Đường thi, phác họa cảnh hoàng hôn vùng sông nước “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa” Những lớp mây nối tiếp nhau, đùn dồn tụ, ngưng kết thành những dãy núi trùng điệp. Còn hoàng hôn như dát bạc lên những dãy núi, khiến chúng lấp lánh sáng ngời. Đọc câu thơ ta có thể hình dung ra khung cảnh thiên nhiên ấy thật kì vĩ, tráng lệ làm sao và gợi nhắc đến câu thơ Đường “Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm Mặt đất mây đùn cửa ải xa”. Giữa vùng trời mênh mông, người thi sĩ vẽ thêm một cánh chinh đơn côi, bé bỏng. Cánh chim nhở như đang chở nặng bóng chiều tà đi về phía ánh dương rồi mất hút. Ta không khỏi cảm thấy cánh chim ấy cũng đang mang nỗi sầu vũ trụ, mà nỗi sầu ấy nặng quá, chúng phải nghiêng đôi cánh nhỏ. Chính sự kết hợp giữa các hình ảnh mây đùn đùn, trời mênh mông và cánh chim bé nhỏ đang mang đến dư vị cổ điển cho tác phẩm của Huy Cận. Qua đó, độc giả cũng thấy rõ niềm khắc khoải không gian của Huy Cận. Một mình đứng trước vũ trụ bao la, đối diện với nỗi cô đơn, nhà thơ càng thấm thía cái vô tận, vĩnh hàng của không gian, thời gian và đồng thời là cái ngắn ngủi, hữu hạn của đời người. Ở hai câu thơ cuối, nỗi cô đơn u hoài của Huy Cận còn tăng gấp bội khi ông dõi theo những con sóng đang gợn trôi trên dòng sông Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Lúc này điểm nhìn của nhà thơ đã dịch chuyển từ cao xuống thấp, từ trời mây núi, cánh chim giữa không trung rồi dừng lại trước mặt nước dập dềnh sóng. Từ láy “dờn dợn” mang tính gợi hình, vẽ ra những con sóng đang nhấp nhô trên mặt nước và khiến người nhìn rợn ngợp bởi những lớp sóng cứ dồn gối lên nhau. Còn nhịp 4/3 của dòng thơ lại gợi trạng thái gặp gỡ của những con sóng. Huy Cận đứng và phóng tầm mắt dõi theo những con sóng cứ dập dềnh triền miên, nỗi hoài nhớ quê hương cuối cùng đã dâng lên, Trong thơ cổ điển,hình ảnh khói sóng trên sông đã trở thành nguyên cớ, thành cái dễ gợi nhắc nỗi niềm hoài hương của người thi sĩ. Còn ở đây, Huy Cận đã không còn bị tác động bởi yếu tố ngoại cảnh, là khói hoàng hôn để nói về nỗi niềm da diết nhớ quê hương. Như vậy, hai khổ thơ cuối bài tràng giang ta thấy, Huy Cận đã không lặp lại người xưa ở cái nguyên cớ nhớ quê nhưng vẫn khiến người đọc thấy bâng khuâng, nao nao thương nhớ. Nhưng hơn hết, nỗi lòng đối với quê hương không chỉ là nỗi nhớ nhà mà sâu sắc hơn, là nỗi buồn. Nỗi buồn của cả một thế hệ, một lớp người bởi cảnh nước mất nhà tan. Vì vậy, đằng sau nỗi nhớ quê nhà da diết ấy còn ẩn chứa tình yêu đất nước tầm kín mà sâu sắc của Huy Cận. Có thể nói, hai khổ thơ cuối bài “Tràng giang” là nơi hội tụ những đặc sắc nghệ thuật, nội dung sâu sắc của cả bài thơ. Ở đây ta thấy được phong vị cổ điển kết hợp hài hòa với tinh thần sáng tác hiện đại, và sự hài hòa giữa cảm xúc cá nhân và suy tư thời đại. Chính những sự cộng hưởng này đã khiến tâm trạng, cảm xúc, nỗi u sầu cô đơn và nỗi hoài vọng quê hương của Huy Cận càng thêm da diết, triền miên. Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 8 Con người trước không gian rộng lớn bao la luôn có cảm giác nhỏ bé, rợn ngợp. Đứng trước không gian ấy, con người thường có nhiều chiêm nghiệm suy ngẫm về cuộc đời để rồi nhận ra sao ta cô đơn quá. Đó cũng chính là nỗi niềm của Huy Cận khi đứng trước không gian trùng điệp rộng lớn của Tràng giang. Sự cô đơn nhỏ bé ấy được thể hiện rõ trong hai khổ cuối của bài thơ. Bài thơ Tràng giang được viết vào mùa thu năm 1939 khi tác giả đang đứng ở bờ Nam bến Chèm sông Hồng. Nhìn cảnh sông nước rộng lớn và suy nghĩ về kiếp người chính là nội dung của bài thơ. Đặc biệt ở hai khổ cuối dường như không chỉ đơn thuần tả cảnh mà trong đó ta còn bắt gặp tâm trạng của thi nhân. Tràng giang không những là tác phẩm điển hình cho hồn thơ Huy Cận mà còn tiêu biểu cho thơ ca lãng mạn đặc biệt là phong trào Thơ Mới trong giai đoạn 1932-1945. Cảnh chiều trong Tràng giang có chiều kích của không gian cao rộng, có sông nước mênh mang và tất cả đều tiêu sơ, hoang vắng, chất chứa nỗi sầu nhân tình thế thái… Nếu ở hai khổ thơ đầu là khung cảnh thiên nhiên sông nước rộng lớn ngợp trời “Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu” Thì đến khổ thơ thứ hai khung cảnh và điểm nhìn đã được thu hẹp hơn thể hiện nỗi sầu buồn trong tâm hồn của thi nhân “Bèo dạt về đâu hàng nối hàng; Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.” Không còn là trời rộng là sông lớn, từ cái nhìn bao quát đã trở thành cái nhìn cận cảnh. Hình ảnh bèo quen thuộc xuất hiện. những cánh bèo nhỏ bé thường gọi sự nhỏ bé của kiếp người. Cánh bèo mong manh như chính kiếp người. Nếu cánh bèo không thể tự di chuyển mà bị dòng nước xô đẩy thì con người cũng thế. So với cuộc đời rộng lớn mênh mông thì con người chỉ là những hạt cát nhỏ bé trôi nổi giữa dòng đời. Trong câu thơ dường như thoáng chút bất lực bế tắc. Không chỉ một cánh bèo, một kiếp người mà “hàng nối hàng” nhiều kiếp người cũng đang lạc lõng bơ vơ giữa cuộc đời. Dường như không chỉ có Huy Cận cảm thấy cô đơn thấy lạc lõng ngay chính trên đất nước của mình mà là cả một tầng lớp thanh niên sinh ra trong thời loạn lạc của đất nước. Họ đều như những cánh bèo kia lênh đênh không biết sẽ đi về đâu chỉ đành phó mặc cho dòng đời xô đẩy “Bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước Biết chọn một dòng hay để nước trôi.” Huy Cận cũng thế nên ông thấu hiểu cho tình cảnh của những người thanh niên giống ông. Phân tích 2 khổ thơ cuối bài Tràng giang sẽ thấy chỉ một từ láy “mênh mông” nhưng cũng đã đủ diễn tả không gian rộng lớn của đất trời. Không gian như được mở rộng ra vô biên. Và trong không gian rộng lớn ấy chỉ có cánh bèo nhỏ bé lênh đênh, thật cô đơn và tuyệt vọng. Sau khi vẽ ra không gian rộng lớn ấy, nhà thơ đã đi đến một điệp khúc “không” độc đáo. Điệp từ “không” được lặp lại hai lần trong lời thơ – “không một chuyến đò ngang”, “không cầu gợi chút niềm thân mật”. Không có gì cả, không có người cũng chẳng có sự vật. Nỗi cô đơn cứ thế mà ngự trị khắp nơi len lỏi vào không gian xen lẫn vào tâm hồn nhà thơ. Đó cũng chính là điều đã làm nên cái điệu buồn miên man này. Nhưng dường như không chỉ có cảnh vật cô đơn mà con người dường như cũng từ chối cả sự giao tiếp với thế giới xung quanh. Chính con người dường như cũng đang thu mình lại giữa sự cô đơn, khép lại tấm lòng của mình và từ chối giao tiếp với thế giới. Bến và đò vốn muôn đời nối liền nhau, nhắc đến bến là phải nghĩ đến đò nhưng trong câu thơ thì bến trống rỗng mà thuyền cũng chẳng đến. Bến đó nhưng nào có đợi mong thuyền hay một chuyến đò nào sang sông. Tất cả mọi sự vật đều từ chối sự kết nối. Hai khổ thơ cuối bài Tràng giang ta thấy từ láy “lặng lẽ” đã nhấn mạnh thêm sự trống vắng tĩnh lặng đến đáng sợ nơi đây. Trong im vắng cũng chính là lúc người ta sống thật với lòng mình sống thật với những cảm xúc của mình. Nhưng trong im vắng người ta lại cảm thấy cô đơn nhiều hơn, để rồi cần tìm một nơi để nương tựa sẻ chia. “Bờ xanh” tiếp “bãi vàng”, những gam màu đã bắt đầu xuất hiện. Nhưng có màu xanh tươi mát hay màu vàng ấm áp cũng không khiến cho bức tranh này tươi mới hơn mà ngược lại nó càng trở nên âm u tịch mịch. Những gam màu ấy chỉ càng khiến cho cảnh trở nên hiu hắt đìu hiu. Cảnh buồn thấm vào cảnh vào người hay chính nỗi buồn sự cô đơn của con người khiến cảnh vật cũng u ám như câu thơ của Nguyễn Du từng viết “Cảnh nào cảnh chẳng đeo Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Qua đây ta thấy con người đang cô đơn lạc lõng trong không gian rộng lớn, trong thời gian mênh mông vô thủy vô chung của đất trời… Thật không sai khi nói rằng thơ của Huy Cận có sự hòa quyện chặt chẽ giữa chất cổ điển và chất hiện tại. Điều ấy được thể hiện rõ ở khổ thơ cuối “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.” Phân tích 2 khổ thơ cuối bài Tràng giang, ta thấy hình ảnh những đám mây chất chồng lên nhau được diễn tả thật hùng vĩ qua dòng phác họa “lớp lớp mây cao đùn núi bạc”. Từ láy “lớp lớp” diễn tả khối lượng lớn, và dường như còn đang tiếp diễn. Sức sống ấy cứ dâng lên không sao kìm nén được. Sức sống ấy được diễn tả cô đọng qua từ “đùn”. Trong thơ văn, không ít nhà thơ đã dùng từ “đùn” để thể hiện sức sống của cảnh vật như Đỗ Phủ từng viết “Giang giang ba lãng kiêm thiên dũng Tái thượng phong vân tiếp địa âm.’ Thu hứng Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm Mặt đất mây đùn cửa ải xa. Hay Nguyễn Trãi cũng từng viết “Rồi hóng mát thuở ngày trường Hòe lục đùn đùn tán rợp giương” Cảnh ngày hè Huy Cận cũng sử dụng từ “đùn” ấy để diễn tả sự chất đống, chất dồn của đám mây. Những đám mây xếp chồng lên nhau tạo cho ta cảm giác như những núi bạc đã lơ lửng trên không. Hình ảnh hiện ra thật hùng vĩ làm sao. Trong bức tranh cổ thi ấy, nét động bắt đầu xuất hiện. Đầu tiên chính là “chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”. Hình ảnh con chim cuối ngày thường gợi ra một cảm giác chán chường mệt mỏi như trong câu thơ của Bà huyện Thanh Quan. “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi Dặm liễu sương sa khách bước dồn”. Hay trong câu thơ của Hồ Chí Minh “Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ Cô vân mạn mạn độ thiên không”. Cánh chim của Huy Cận cũng thế chở đầy mệt mỏi lo âu và cả sự cô đơn rợn ngợp. Chú chim nhỏ bé cô đơn giữa bầu trời rộng lớn. Cánh chim nếu so với bầu trời thật quá nhỏ bé cũng như con người với dòng đời này. Ta nhận ra cuộc đời này nếu so với dòng chảy vô tận của thời gian thì chẳng khác nào một hạt cát giữa sa mạc, một giọt nước giữa đại dương. Nếu ở những dòng thời trên thời gian không xuất hiện cụ thể thì ở dòng thơ này thời gian đã được xác định “bóng chiều sa”. Giữa hai sự vật “chim nghiêng cánh nhỏ” và “bóng chiều sa” dường như không có sự kết nối, cho người đọc tự liên tưởng. Chính vì vậy ta có cảm tưởng dường như cánh chim đang chở nặng bóng chiều hay chính cánh chim mỏi mệt đã kéo bóng chiều xuống. Nhưng dù hiểu theo cách nào ta vẫn thấy hình ảnh ấy hiện ra thật tráng lệ. Nỗi buồn của người lữ thứ trước cảnh hoàng hôn rợn ngợp. Từ điểm nhìn trên cao, Huy Cận đã di chuyển điểm nhìn xuống mặt nước quen thuộc “Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.” Lòng quê chính là tình cảm dành cho quê hương đất nước. Hóa ra nhà thơ không chỉ quan tâm đến bản thân mà ngầm trong đó là một tình yêu nước thầm kín. Từ láy dợn dợn gọi tả sự chuyển động nhỏ nhưng diễn ra liên tục không ngừng như một sự ám ảnh. Tình yêu đối với quê hương cũng thế có đôi khi mạnh mẽ có khi khi lại ẩn khuất trong cuộc sống nhưng nó vẫn tồn tại mãi ở đó không khác đi. Không nhắc về nói nhưng mỗi lần nhớ đến vẫn cảm thấy đau nói. Dùng sự vật biểu trưng để nhớ đến quê hương không phải là điều xa lạ. Như Lí Bạch từng nhìn trăng mà nhớ quê hương “Cử đầu vọng minh nguyệt Đê đầu tư cố hương” Hay Thôi Hiệu cũng từng “Nhật mộ hương quan hà xứ thị Yên ba giang thượng sử nhân sầu.” Nhưng nếu các thi nhân xưa cần vật để gợi nhớ quê hương thì Huy Cận đang ở trên quê hương mà vẫn nhớ về quê hương. Tại sao một con người đang đứng trên đất nước mình mà lại đi nhớ về quê hương? Bởi lẽ quê hương ta đang bị quân giặc giày xéo, đây không phải là quê hương đúng nghĩa, nên dù đang đứng ngay trên quê hương mình nhưng ông vẫn thấy cô đơn, thấy bơ vơ như những con người xa quê… Phân tích 2 khổ thơ cuối bài Tràng giang nói riêng cũng như toàn bộ tác phẩm nói chung sẽ thấy bài thơ chính là một nỗi buồn cô đơn dài vô tận. Nỗi buồn ấy không chỉ đến từ vạn vật mà còn đến từ chính tâm trạng thi nhân. Đó là tâm trạng của một người không có được tự do trên chính đất nước mình. Giọng thơ đượm buồn kết hợp với những hình ảnh rộng lớn của không gian đã cho thấy được sự cô đơn nhỏ bé của kiếp người trước sự trôi nổi của dòng đời. Phân tích bài thơ Tràng giang nói chung cũng như hai khổ thơ cuối nói riêng sẽ thấy tác phẩm là đại diện tiêu biểu cho phong cách sáng tác của Huy Cận. Một cái buồn ảo não, một nỗi sầu nhân thế ngấm xuyên vào cảnh vật và vào cả lòng người. Bởi thế mà nhà thơ Lê Duy đã từng viết “Là Tràng Giang khổ nào cũng dập dềnh sóng nước, Là tâm trạng, khổ nào cũng lặng lẽ u buồn…” Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 9 Thơ là cây đàn muôn điệu của tâm hồn, của nhịp thở con tim, thơ diễn tả rất thành công mọi cung bậc cảm xúc của con người, niềm vui, nỗi buồn hay cả sự cô đơn tuyệt vọng. Mang trong mình sứ mệnh cao cả của một nhà thơ khi sáng tạo nghệ thuật cùng với nỗi buồn thế sự sâu sắc, Huy Cận đã xây dựng được một phong cách hoàn toàn mới mẻ, khác với những nhà thơ cùng thời. Tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của ông có thể kể đến Tràng giang trong tập Lửa thiêng. Bài thơ được gợi cảm xúc từ một buổi chiều thu năm 1939 khi tác giả đứng ở bờ Nam Bến Chèm. Trước cảnh sông Hồng mênh mang sóng nước, những cảm xúc thời đại đã dồn về lúc thi sĩ băn khoăn, suy nghĩ về sự biến đổi của thế sự với cảm xúc dạt dào khi thấy cái tôi nhỏ bé trước vũ trụ bao la. Đặc biệt qua hai khổ thơ cuối của đoạn thơ là một nỗi buồn tràng giang như một sự ám ảnh lan tỏa khắp không gian vũ trụ, hoàn toàn vắng bóng giai nhân mà chỉ đơn độc một nỗi niềm của một người “sống trên quê hương nhưng luôn cảm thấy thiếu quê hương” “Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng; Mênh mông không một chuyến đò ngang. Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa. Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.” Tính chất lãng mạn của bài thơ trước hết là Huy Cận đã phủ lên cảnh vật, không gian những cảm xúc, những nỗi niềm tâm trạng của mình. Đó là nỗi buồn, sự xúc động mạnh mẽ trước cảnh sông nước, cảnh bèo dạt gợi nỗi sầu muôn trùng “Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;” Ta chợt bắt gặp sự tương đồng giữa “bèo dạt về đâu” với “bèo dạt mây trôi” trong dân ca quan họ từng gợi lên trong lòng nhiều cảm xúc mơ hồ. Hình ảnh ẩn dụ cánh bèo bao giờ cũng gợi lên sự vô định, xa xăm, lênh đênh. Không chỉ dừng lại ở đó, câu hỏi tu từ cùng điệp từ “hàng” như trải rộng nỗi buồn trên sóng nước tràng giang. Liệu những cánh bèo đó sẽ trôi dạt về phương trời nào, hay cứ mãi bấp bênh, trôi nổi như số phận đại đa số người dân trong hoàn cảnh đất nước lầm than? Sống trong thời khói lửa còn đốt cháy quê hương, thi nhân không khỏi xót xa trước cuộc đời đầy biến động, đổi thay, biến con người ta thành như những cánh bèo trôi dạt vô hướng kia. Buồn rồi lại buồn hơn, muốn tìm một nơi bấu víu, một chút hơi ấm của sự sống nhưng cái nhà thơ nhận được chỉ là sự hiện diện của những cái không có “Mênh mông không một chuyến đò ngang. Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.” Chiếc cầu, con đò vốn là những thứ nối liền đôi bờ, là sự giao nối giữa con người với nhịp sống, thường gợi sự gần gũi và gợi nhớ quê hương. Nhưng buồn thay, ở đây lại không có một chiếc cầu cũng chẳng có con đò nào lại qua. Điệp từ “không” hai lần như nhấn mạnh sự cô đơn, trống trải có thật trong lòng người. Hai bờ sông mà như hai thế giới, không một chút liên hệ, không một chút giao hòa. Hai bên bờ chạy song song, cùng “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”, không một chút thân mật, chỉ có bờ tiếp bờ, bãi tiếp bãi. Từ láy “lặng lẽ” được đưa lên đầu dòng thơ cùng âm điệu trầm buồn càng tô đậm cái cô tịch, vắng lặng. Thi sĩ đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật cổ điển quen thuộc lấy không để nói cái có, càng nhấn mạnh nhiều cái không càng gợi ra nhiều cái có, cảnh vật vắng vẻ không có gì lại gợi ra nhiều nỗi buồn chất chồng trong tâm trí. Đưa tầm nhìn lên trời cao thầm mong sẽ tìm được chút niềm vui nhưng lại càng khiến lòng buồn hơn “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.” Thiên nhiên, cảnh vật, tạo vật qua tâm hồn Huy Cận tuy trầm buồn nhưng lại bộc lộ một vẻ đẹp kì vĩ, nên thơ. Mây trắng hết lớp này đến lớp khác như những búp bông trắng khổng lồ cứ liên tiếp nở ra, ánh trời chiều chiếu vào trông như quả núi dát bạc trong nền trời trong xanh khiến cho ánh chiều trước khi vụt tắt ánh lên vẻ đẹp. Câu thơ dựng lên được một hình ảnh rất tạo hình như một bức tranh sơn mài, đằng sau bức tranh là nỗi lòng thi nhân. Từ láy “lớp lớp” diễn tả nhiều lớp kế tiếp nhau, lớp nọ liền lớp kia đều đặn không dứt. “Đùn” diễn tả những đám mây và cũng là nỗi sầu tự mở ra, liên tiếp như có một sức đẩy từ bên trong. Đúng là “Sầu đong càng lắc càng đầy”. Câu thơ Huy Cận làm ta liên tưởng đến câu thơ dịch trong bai “Thu hứng” nổi tiếng của Đỗ Phủ “Mặt đất mây đùn cửa ải xa.” Bài thơ Tràng giang gợi nổi buồn man man thiên cổ của Huy Cận. Tất cả cảnh vật liên quan đến con người đều không hiện hữu, qua đó thấy được nổi cô đơn của Huy Cận truớc cảnh thiên nhiên rộng lớn, trong đó thấm đậm tình người, tình đời, tình yêu nước tha thiết. Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 10 Trong số các nhà thơ mới trước Cách mạng, Huy Cận là một nhà thơ có chất thơ ảo não nhất. Thơ ông luôn chất chứa một nỗi sầu nhân thế. “Tràng Giang” là một bài thơ gắn liền với tên tuổi của Huy Cận với những nỗi niềm yêu nước thiết tha. Đặc biệt, nỗi niềm thương nhớ ấy càng được thấy rõ trong phần phân tích hai khổ thơ cuối bài Tràng giang dưới đây Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng; Mênh mông không một chuyến đò ngang. Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa. Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Trước mắt người đọc hiện lên một khung cảnh hắt hiu Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng; Mênh mông không một chuyến đò ngang. Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Từng đám bèo cứ lặng lẽ nối tiếp nhau trôi theo dòng nước mà không biết trôi về đâu, tựa như dòng đời bơ vơ, vô định, cảm thấy mình bất lực và nhỏ bé. Ở đây có sự đối lập giữa những thứ đang có và những thứ không có. Chỉ có dòng nước mênh mông với những cánh bèo nối tiếp nhau trôi trong vô định, không có lấy một cây cầu dù chênh vênh, không có lấy một con đò dù nhỏ bé. Hai bên bờ sông mà như hai thế giới, không có một chút liên hệ nào, dù gần mà cũng thành xa xôi không thể với tới. Hai bên bờ chạy song song, cùng “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”, ko chút thân mật, không chút giao hòa nào cả. Khung cảnh thiên nhiên ấy, cũng như tâm trạng của nhà thơ vậy. Giữa trời đất bao la nhưng không tìm được những tâm hồn đồng điệu với mình, không ai có thể hiểu mình. Nỗi cô đơn cứ thế chồng chất chất chồng, làm cho con người ta càng cảm thấy nhỏ bé giữa thiên nhiên, càng khao khát hơn sự đồng cảm, yêu thương. Không nhìn dòng nước buồn hiu hắt nữa, nhà thơ dắt chúng ta nhìn đến cao hơn Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa. Trong thơ của Huy Cận cũng có cánh chim và đám mây như trong một số bài thơ cổ nói về buổi chiều, tuy nhiên, hai hình ảnh này không có tác dụng hô ứng cho nhau như trong thơ cổ, mà chúng còn có ý nghĩa trái ngược nhau. Trong buổi chiều muộn, nhưng từng lớp, từng lớp mây trên cao kia vẫn chất chồng lên nhau, tạo thành những núi bạc, nổi bật trên nền trời xanh trong. Đây là một cảnh vật hùng vĩ biết bao! Đó không phải đám mây cô đơn lững lờ giữa tầng không khi chiều về như trong thơ của Hồ Chí Minh. Mây ở đây chất chồng, ánh lên trong nắng chiều, làm cho cả bầu trời trở nên đẹp đẽ và rực rỡ. Giữa khung cảnh ấy, một cánh chim nhỏ nhoi xuất hiện. Cánh chim bay giữa những lớp mây cao đẹp đẽ, hùng vĩ như càng làm nổi bật lên cái nhỏ bé của nó. Nó đơn côi giữa trời đất bao la, tựa như tâm hồn nhà thơ bơ vơ giữa đất trời này. Đặt cánh chim và những núi mây bạc ở thế đối lập, đã tô đậm thêm nỗi buồn trong lòng nhà thơ. Nỗi buồn như thấm đượm, lan tỏa trong khắp cả không gian Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Tầm mắt trở lại trên dòng nước. Từng đợt sóng nước dập dềnh, nhẹ nhàng uốn lượn nhưng cũng tồn tại rất lâu, lan tỏa rất xa. Đó là hình ảnh miêu tả, nhưng cũng chính là tâm trạng của tác giả – một cảm giác cô đơn, Người xưa nhìn khói sóng trên dòng sông khi chiều tà mà cảm thấy nhớ nhà. Còn Huy Cận không cần thấy khói hoàng hôn nhưng trong lòng vẫn dâng lên một nỗi nhớ quê hương da diết. Đó như một thứ tình cảm thường trực vẫn luôn chất chứa trong lòng người con xa quê, mà không cần một tác động nào từ bên ngoài, vẫn thấy nhớ quê, thương quê. Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng giang càng thấy rõ hơn bức tranh quê hương đẹp đẽ, nên thơ với những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam như bờ sông, cánh bèo, củi khô, áng mây. Đó là tình yêu quê hương đất nước sâu nặng, đã thấm vào từng con chữ. Đồng thời trong đó cũng thể hiện khát khao tìm được sự đồng điệu trong thế giới bao la của một tâm hồn thi sĩ luôn băn khoăn một “nỗi sầu nhân thế”. Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 11 Huy Cận tưởng như là người lữ khách với niềm đam mê bất tận về một vẻ đẹp buồn âu sầu ảo não, vậy nên thi nhân đã không ngại bỏ buồn vào không gian, lượm lặt từ những chất thơ tế vi mỏng manh của tạo vật để làm nên những bức tranh không gian mang nỗi hoài cổ của chính mình. Hai khổ thơ cuối Tràng Giang là những vần điệu mang đậm nét âm hưởng ấy. “Bèo dạt về đâu hàng nối hàng Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”. Hình ảnh cánh bèo từ bao lâu nay gửi mình vào trong thơ luôn là hình ảnh gợi về sự mỏng manh, vô định và rẻ rúm của kiếp người. Trên điệu chảy nhịp trôi chầm chậm của câu thơ này, một lần nữa xúc cảm ấy lại được gợi về. Những hàng bèo nối đuôi nhau, cứ chảy trôi bất tận, dòng sông hay cũng chính là dòng đời vô định chảy trôi khiến cho kiếp người bé nhỏ cảm thấy bơ vơ, bế tắc và mất phương hướng. câu thơ mang âm hưởng buồn man mác, một nỗi buồn đậm chất Huy Cận. Nhất là hình giữa dòng mênh mông vô bờ ấy, một chuyến đò ngang gợi niềm thân mật, gợi sự kết nối cũng không xuất hiện dù chỉ thoáng qua, mà còn lại đây chỉ đơn côi với những cánh bèo vô thức trôi. Chính vì thế không gian sông nước vốn dĩ mênh mông, vốn dĩ đã làm nên những biển buồn bất tận bỏ vào lòng người, nhưng nay không chỉ là sức gợi vô tận về nỗi buồn mà còn mang một chiều sâu khác về sự đứt gãy nối kết. Biểu tượng cây cầu bao giờ cũng là điểm tựa để cho người đọc cảm nhận mãnh liệt nhất về sự gắn kết, của sự gắn bó và nối tiếp. Thế nhưng ở đây, nó không xuất hiện phải chăng là một chỉ dấu ngầm cho sự đứt gãy kết nối, đứt gãy những mắt xích gắn kết, hay cũng là một chỉ dấu để độc giả cảm nhận được về sự cô đơn trống vắng hoang hoải đến bất tận trong tâm hồn con người. Còn đò ngang là nơi bấu víu, là nơi con người tìm đến để có thể vượt qua cách trở về không gian mà đến gần với nhau hơn, nhưng giờ đây ngay cả điểm tựa duy nhất ấy cũng đã biến mất không dấu vết. Trả lại cho nhân vật trữ tình chỉ là những bãi trống hoang hoải cô liêu của bờ xanh bãi vàng, ta bỗng nhớ đến hình ảnh những bãi xanh hun hút bận tận không cùng trong câu thơ Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm. Các tính từ, các từ láy “lặng lẽ” một lần nữa nhấn thêm vào sự trống vắng, mênh mông và cô đơn vời vợi của tâm hồn, của lòng người. “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Khổ thơ cuối có thể coi là tuyệt bút tuyệt hoa mà Huy Cận đặc dùng. Mây cao núi bạc, khung cảnh mới thật hùng vĩ, tráng lệ làm sao, đó là những chất liệu mang màu cổ điển được họa sĩ Huy Cận vờn phối cho bức tranh chiều tà nhuốm màu buồn man mác của chính mình. Khiến cho chỉ một câu thơ ngắn, nhưng lại gợi về thăm thẳm những mênh mông và rợn ngợp từ quá khứ đuổi về hiện tại, từ cổ điển gọi về hiện đại. Cánh chim gọi buổi chiều, tín hiệu ấy dường như không còn xa lạ nữa, thế nhưng vào trong thơ Huy Cận nó vẫn chở những xúc cảm của riêng nhà thơ vào trong đó. Tưởng như cánh chim nhỏ bé và đơn côi ấy, đã chờ cả buổi hoàng hôn trên đôi cánh của mình, tưởng như đã chở cả cái không cùng và cô đơn vời vợi của kiếp người ở trên đó. Dấu hai chấm tưởng như một sự ngăn cánh, để làm điểm nhấn cho độ nghiêng rất nghệ mà cũng rất tinh của cánh chim nhỏ, hay có thể là dụng ý của nhà thơ để cả câu thơ nâng đỡ cả điệu hồn của thi nhân gửi vào đó. Hai câu thơ cuối, đứng trước thiên nhiên rộng lớn mênh mông, thi nhân bỗng trào dâng một nỗi nhớ nhà khôn nguôi, nỗi nhớ ấy là nỗi nhớ luôn trở đi trở lại như một lời khấn khứa, như một khắc khoải khôn nguôi xuất phát từ tấm lòng của một cái tôi đứng trên quê hương mà vẫn cảm thấy thiếu vắng quê hương. Hoàng hôn thường là mốc thời gian gợi nhớ gợi buồn, nhưng ở đây không gian ấy chỉ đơn thuần là ngoại giới, còn trong nội tâm nhà thơ, thì toàn bộ tâm hồn đã hướng trọn về tình quê mất rồi. Lấy cái không để gợi về cái có, để gợi về nỗi lòng, để khơi gợi sự đồng điệu đó chính là cái tài trong bút thơ Huy Cận. Hai khổ thơ cuối Tràng Giang, dường như là những mạch chảy mạnh mẽ nhất của tâm trạng thi nhân, tưởng như nếu lắng mình nghiêng lòng xuống trang sách có thể cảm được điệu tâm hồn buồn và cô đơn của cái tôi thơ Mới chở mang trong đó. Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang- Mẫu 12 Nhà thơ Huy Cận là một nhà thơ nổi tiếng với làng thơ mới, mỗi tác phẩm của ông đều gửi gắm những tâm trạng, nỗi buồn phiền, sầu muộn của mình trong đó. Bài thơ Tràng Giang là một bài thơ tiêu biểu gắn liền với Huy Cận, thể hiện nỗi buồn của tác giả trước nhân tình thế thái, trước nỗi buồn nhân thế. Thể hiện tình cảm yêu quê hương, đất nước của tác giả. Đặc biệt là hai khổ thơ cuối thể hiện rõ nét tâm trạng phiền não, sầu muộn của tác giả Huy Cận với những nỗi sầu nhân thế. “Bèo dạt về đâu hàng nối hàng Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng” Hình ảnh từng cụm bèo lững lờ trôi trên sông vô định không biết đời mình rồi sẽ đi đâu về đâu, trong bối cảnh không gian mênh mông sông nước trời biển bao la, thời gian là cảnh chiều tà, nhìn những đám bèo trôi vô định, không có phương hướng khiến cho tác giả cảm thấy nôn nao buồn. Một nỗi buồn nhân thế không biết tỏ bày cùng ai, chỉ có thể gửi gắm vào những câu thơ của riêng mình. Trong câu thơ “mênh mông” hai từ láy này gợi lên cho người đọc sự sầu muộn bao la, trước cảnh sông chiều nhưng không có một con đò nhỏ để qua sông, càng làm cho lòng người thêm man mác. Tác giả đã sử dụng nghệ thuật đối lập giữa không gian và con người bé nhỏ, không gian càng mênh mông thì con người càng cảm thấy mình thật cô đơn bé nhỏ, lạc lõng biết bao nhiêu. Khung cảnh thiên nhiên thể hiện như tâm trạng của nhà thơ Huy Cận lúc này đều gợi lên tâm trạng buồn. Giữa đất trời sông nước bao la không tìm được một người bạn tâm giao tri kỷ, không ai có thể hiểu nỗi lòng của tác giả, làm cho nỗi cô đơn cứ thế mà xô sóng ở trong lòng, con người cảm thấy mình thật bé nhỏ, bất lực trước cuộc sống hiện tại. “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.” Cánh chim chiều nghiêng bóng trước hoàng hôn, một cánh chim nhỏ nhoi lẻ loi trên bầu trời bao la rộng lớn, thể hiện sự cô liêu khắc khoải. Cánh chim chiều chao nghiêng kia phải chăng chính là hiện thân của tác giả lúc này, đang cảm thấy trào dâng nghiêng ngả những cơn sóng lòng. Đang cảm thấy mình lẻ loi, cô đơn trước cuộc đời bao la rộng lớn. Thiên nhiên trong khổ thơ này gợi lên cho người đọc cảm giác buồn thê lương, não lòng, đúng như câu thơ của Nguyễn Du viết trong tác phẩm Truyện Kiều rằng Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” để thể hiện sự cô đơn, lẻ loi buồn chán của tác giả trước thiên nhiên, cuộc đời. Tác giả Huy Cận đã vô cùng tinh tế khi đặt cánh chim đối lập cô đơn với không gian bao la rộng lớn, mênh mông của đất trời, vũ trụ. “Lòng quê rờn rợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.” Trong hai câu thơ này thể hiện tâm trạng nhớ nhà nhớ quê hương của tác giả Huy Cận. Người xưa thường nhìn khói lam chiều gợi lên cảnh nhớ nhà, nhớ mùi khói bếp thơm ngai ngái để hướng tới quê hương, gia đình, hướng tới người thân thương nhất của mình. Nhưng Huy Cận viết “không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” thể hiện nỗi nhớ của ông là nỗi nhớ thường trực, nó luôn chứa đựng in sâu trong lòng tác giả, không cần phải có chất xúc tác là khói lam chiều mới nhớ. Bài thơ “Tràng Giang” là một bài thơ vô cùng hay thể hiện bức tranh quê hương trong cảnh hoàng hôn vô cùng tươi đẹp, sinh động, với hình ảnh thân thuộc như cánh chim, mây trời, sông nước, rồi những cánh bèo trôi. Phân tích hai khổ cuối bài Tràng giang xong, chúng ta có thể thấy tất cả đều gợi lên một bức tranh chiều tà vô cùng tinh tế, tươi đẹp nhưng thể hiện một nỗi sầu nhân thế vô cùng sâu sắc trong lòng tác giả. Lời kết Bài viết bao gồm dàn ý và top những bài văn phân tích 2 khổ cuối bài Tràng Giang của tác giả Huy Cận theo một số mẫu được chúng tôi tổng hợp cũng như sưu tầm nhằm giúp các em học sinh có thể nắm được những yếu tố cần thiết trong một bài văn phân tích cũng như giúp các em học sinh làm và hoàn thành tốt bài văn phân tích của mình.
Hãy cùng tìm hiểu những bài phân tích khổ 2 Tràng giang để làm rõ hơn giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật mà Huy Cận gửi gắm nhé. Mục lục bài viết 1 1. Dàn ý phân tích khổ 2 Tràng Giang của Huy Cận 2 2. Phân tích khổ 2 Tràng Giang hay nhất 3 3. Phân tích khổ 2 Tràng Giang của Huy Cận 4 4. Phân tích khổ thơ thứ 2 bài Tràng Giang ấn tượng nhất Mở bài giới thiệu tác giả, tác phẩm Thân bài Luận điểm 1 Cảnh bến đò vắng trong nắng chiều – Cảm xúc của nhà thơ được bộc lộ nhiều hơn qua hình ảnh lẻ loi giữa không gian lạnh lẽo Góc nhìn của nhân vật trữ tình lúc này rộng hơn, rộng hơn khi từ khung cảnh sông Hồng đến không gian bao la của đất trời, đôi bờ. Đó là không gian yên tĩnh, tĩnh lặng có cảnh cồn, gió, làng, chợ… nhưng cảnh quá đạm bạc, nhỏ nhoi nhỏ, xa, van… Từ “thon thả” gợi tả sự thưa thớt, rời rạc của những cồn nhỏ mọc lên giữa sông. Trên những đụn cát nhỏ ấy, lau sậy mọc um tùm, khi có gió thổi, âm thanh phát ra nghe man mác, nghe não nuột. Có âm thanh, nhưng âm thanh đó phát ra từ “chợ chiều” đã “vắng bóng” mà làng quê đã xa nên không đủ làm cho cảnh vật sinh động, có hồn. Chỉ một câu thơ mà nhiều sắc thái đã gợi những âm thanh xa xăm, bâng khuâng “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều?”. – “Đâu tiếng làng xa” có thể là câu hỏi “ở đâu” như niềm mong mỏi, hoài niệm của nhà thơ về một chút sinh hoạt, âm thanh của cuộc sống con người. Nó cũng có thể là “đâu có”, một sự phủ định hoàn toàn, bởi vì không có gì sống xung quanh đây để xua tan sự cô độc của thiên nhiên. Tất cả vẫn chỉ là sự im lặng bao trùm dòng sông. Luận điểm 2 Tâm trạng của nhà thơ. – Hai câu thơ tiếp, không gian được mở ra bao la + Huy Cận đã vẽ nên một khung cảnh không gian ba chiều rộng lớn chiều cao mặt trời mọc, trời lên, chiều rộng trời rộng và chiều dài sông dài, độ sâu”. -> Vũ trụ bao la, vô tận còn con người thì quá nhỏ bé, cô đơn. + Nhà thơ nhìn lên trời thấy bầu trời “chót vót” Cách dùng từ độc đáo bởi nhà thơ không dùng từ “cao” mà dùng từ “sâu”. “Cao” đề cập đến độ cao vật lý của bầu trời và “sâu” không chỉ mô tả độ cao vật lý mà còn mô tả sự kinh ngạc trước không gian đó. => Đó là sự bất ngờ trong tâm hồn nhà thơ trước sự vô tận của vũ trụ. => Cách dùng từ rất mới vì tác giả đã lồng chiều cao vào chiều sâu; ông đang nhìn bầu trời “cao chót vót” dưới làn nước “sâu thẳm”. Không gian càng rộng lớn thì hình ảnh con người càng trở nên nhỏ bé, cô đơn, lẻ loi. + Hình ảnh “bến vắng” cùng với âm hưởng man mác của hai từ “vắng” ấy, một lần nữa gợi lên một nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn của cuộc đời quá nhỏ bé, rất hữu hạn và vũ trụ thì rộng mở vô tận. => Không gian càng bao la, vắng lặng bao nhiêu thì hình ảnh con người càng trở nên cô đơn bấy nhiêu. Nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, bao trùm cảnh vật. => Khổ thơ thứ hai cho ta thấy tâm trạng buồn bã, hoang mang, thất thần trước ngã rẽ của cuộc đời. Nhà thơ cảm nhận rõ sự nhỏ bé, lẻ loi, lẻ loi của một kiếp người giữa cuộc đời rộng lớn. Đây không phải là nỗi buồn của riêng ông mà là nỗi buồn chung của cả một thế hệ, đặc biệt là giới văn học nghệ thuật đầu thế kỷ XX. Kết bài đánh giá tác giả tác phẩm. 2. Phân tích khổ 2 Tràng Giang hay nhất Trong phong trào thơ mới giai đoạn 1932-1945, có lẽ say đắm và lãng mạn nhất là Xuân Diệu, say đắm nhất là Hàn Mặc Tử, rồi buồn nhất có lẽ không ai qua được Huy Cận. Nỗi buồn của Huy Cận không phải là nỗi buồn của tình yêu đôi lứa mà là nỗi buồn của cuộc đời, nỗi buồn của một thân phận chìm nổi. Có người đùa rằng trong thời gian mang thai, chắc mẹ Huy Cận buồn lắm nên nhà thơ trẻ sớm mang một nỗi buồn vô tận, đôi mắt luôn ngấn lệ nhớ đời. Cái tài văn chương của Huy Cận là biết gợi nỗi buồn, biết gieo nỗi buồn vào không gian bao la, điều đó được thể hiện rõ nét nhất trong bài thơ Tràng giang. Thơ Huy Cận thường giàu tính triết lí, suy ngẫm sâu sắc về nhân sinh quan, thế giới quan, giá trị sống. Huy Cận yêu thể loại thơ Đường của văn học Trung Hoa, rồi cũng yêu chất lãng mạn của văn học Pháp. Vì vậy, khi đọc thơ ông, ta luôn thấy trong từng câu thơ mang màu sắc cổ kính, lúc lại thấy phảng phất nét hiện đại. Tuy nhiên, chúng hỗ trợ nhau một cách kỳ diệu, tạo nên một hồn thơ rất Huy Cận, rất rộng lớn. Ở Tràng Giang, nếu khổ thơ đầu tả cảnh sông nước mênh mông thì ở khổ thơ thứ hai dường như tác giả đã nhắm mắt, nhìn cồn cát, tai đã bắt đầu lắng nghe, lòng lại càng lắng lại. “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống, trời lên sâu chót vót; Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.” Huy Cận không nhìn thấy những cồn cát lớn mà chỉ thấy những cồn cát nhỏ bé, lạc lõng, “rụng rời”, rất thưa thớt và mong manh, có cảm giác Huy Cận miêu tả cồn cát như một nhành liễu rung rinh trước gió. Thêm chút “gió lặng” khiến không gian càng thêm hoang vắng, hiu quạnh, gió ở bờ sông mà chỉ đến mức “lấp ló” thì cô quạnh quá, đọc từ đó người ta chỉ biết liên tưởng. Chỉ cần nghĩ đến từ “buồn thiu”! Để rồi trong lúc ngẫm nghĩ, Huy Cận chợt đặt ra một câu hỏi, đánh dấu chính thức cho kiếp người mong manh giữa không gian vắng vẻ của bến Chàm lúc bấy giờ. Bạn có nghe tiếng người đi chợ chiều hay thắc mắc chợ ồn ào ở đâu? Dù sao cũng chẳng sao cả, bởi cái gì cũng có thật và chỉ về một cảnh, có tiếng chợ, nhưng đã xa rồi, chỉ lờ mờ, chỉ thoáng qua, và Huy Cận lúc này vẫn một trên bờ sông này. Nghệ thuật động lấy tĩnh tài tình, đẹp đẽ, qua ngòi bút buồn của Huy Cận lấy tiếng “làng” đưa vào không gian rộng lớn này càng tô đậm thêm vẻ đẹp hoang vắng, vắng lặng của bến sông Hồng. Rồi lòng Huy Cận cũng trở nên lặng lẽ hơn, buồn bã hơn, cô đơn và lạc lõng hơn. “Nắng xuống, trời lên” là một hình ảnh hiện đại kết hợp với điệp ngữ “sâu chót vót” đã mở ra chiều rộng bao la của những dòng sông, nay lại càng trở nên rộng lớn hơn. Đất trời như nới rộng khoảng cách trong thơ Huy Cận, vừa thăm thẳm vừa xa xăm. Tưởng rằng mở rộng không gian thì nỗi buồn của Huy Cận sẽ loãng hơn, bớt hiu quạnh hơn, nhưng không, ta dường như cảm nhận được nhà thơ đang dần trút bỏ nỗi buồn của mình. Huy Cận như con mực phun mực đen khắp mặt nước. Để rồi đâu đâu cũng thấy nỗi buồn của Huy Cận, từ ngọn gió, bầu trời, dòng sông, bến đò đều nhuốm một nỗi buồn của ông. Đọc câu thơ cuối, Huy Cận đã ngầm khẳng định tình cảm của mình “Sông dài, trời rộng, bến vắng”. Khắp không gian dài rộng ấy không một bóng người, chỉ có “bến vắng”. Ông đang thầm thở dài cho thân phận lênh đênh, lẻ loi của một thi nhân trong xã hội nhiễu nhương, giông tố này, có lẽ anh cũng đang thầm hoài niệm những ngày xưa huy hoàng, đẹp đẽ chăng? Chỉ một bài thơ bốn câu ngắn gọn, mang màu sắc cổ điển và phảng phất nét hiện đại cũng đủ cho ta thấy một hồn thơ độc đáo của Huy Cận. Dường như thơ ông chỉ gói gọn trong một chữ “buồn” mà ông khai thác, có lẽ sống dưới thân phận một nhà thơ nghèo, với cuộc đời xô bồ nên Huy Cận mới sinh ra nhiều nỗi buồn như vậy. Thơ Huy Cận phải đọc kỹ mới thấy một tình yêu quê hương thiết tha, nồng nàn không thua kém ai ẩn chứa trong những vần thơ đượm buồn. 3. Phân tích khổ 2 Tràng Giang của Huy Cận Không nồng nàn, say đắm như Xuân Diệu, cũng không lãng mạn điên cuồng như Hàn Mặc Tử, thơ Huy Cận là một nỗi buồn vô tận, buồn từ tâm hồn đến cảnh vật. Đọc thơ ông cảm nhận được một chút gì đó hiện đại của văn học Pháp nhưng hơn hết vẫn là chất cổ điển đậm đà của thơ Đường nên ta thường thấy trong thơ ông một nỗi buồn lạ lùng, rất vô định. Nhưng rốt cuộc, nỗi buồn thi ca của ông chỉ xuất phát từ nỗi buồn trần thế, hoài niệm về những điều xưa cũ, những danh lam thắng cảnh giờ đã không còn, chỉ còn lại cuộc đời bộn bề. Một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Huy Cận là Tràng Giang. Nhà thơ 21 tuổi đứng bên bến Chàm sông Hồng suy tư về cuộc đời, kiếp người, rồi trước không gian bao la, trời rộng – sông dài, người đọc đắm chìm trong nỗi buồn của nhà thơ. Chỉ lấy nội dung của khổ thơ thứ hai của Tràng Giang cũng đủ để chúng ta suy ngẫm về những tình cảm nhân văn như thế. “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống, trời lên sâu chót vót; Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.” Nhìn dòng sông chảy mãi, Huy Cận hướng đôi mắt buồn về phía những đụn cát nhỏ “thơ mộng” gợi cảm giác mình bé nhỏ, nhẹ tênh, bồng bềnh. Những đụn cát nhỏ bên bờ sông rung rinh trôi theo gió mới buồn làm sao. Cả gió và cồn đều gợi lên một nỗi buồn khó tả, đó là cảm giác lạc lõng của nhà thơ cô đơn trước dòng sông, buồn trước thời cuộc. Rồi Huy Cận chợt nghe “Còn đâu tiếng làng xa chợ chiều” là một câu hỏi bỏ ngỏ, nhà thơ tự hỏi mình hay hỏi trời đất như vậy. Huy Cận đã hỏi điều gì? Hỏi tiếng chợ quê ở đâu hay hỏi tiếng chợ chiều có âm vang cũng là nghĩa. Nghệ thuật động và tả tĩnh tài tình, độc đáo như thế, “làng xa vắng” như thế mà Huy Cận vẫn nghe tiếng người xì xào trong buổi chợ chiều, chứng tỏ bến này phải vắng vẻ, tĩnh mịch đến nhường nào ? Đôi khi ở khổ thơ thứ hai này, sự sống lại hiện ra nhưng phù du, mong manh nên Huy Cận càng cảm thấy cô đơn hơn. Một hình ảnh khác nhấn mạnh sự tự do, sáng tạo của nhà thơ trong Nỗi buồn của Huy Cận kết hợp với cụm tính từ “sâu chót vót” dễ gợi cho người ta liên tưởng đến một khung tranh sâu rộng vô tận. Cảnh vật bao la, đất trời đã xa rồi, bây giờ sâu hơn và xa hơn. Chỉ là một câu thơ giản dị nhưng Huy Cận đã đặt vào đó cả một không gian rộng lớn, bao la và trong không gian đó chỉ có nhà thơ. Quả thật không sai khi nói Huy Cận là nhà thơ có nỗi ám ảnh sâu sắc về không gian, bởi nếu không có niềm xúc động sâu sắc ấy thì làm sao có những vần thơ tuyệt vời về không gian như bài thơ? Kết lại bài thơ, câu thơ dường như là lời khẳng định của tác giả “Sông dài, trời rộng, bến vắng”. Vâng, trời càng rộng, sông càng dài, bến càng thu về một nơi, càng lẻ loi như bóng thi nhân ngơ ngác bên bến Chèm. Sao Huy Cận buồn thế, sao nỗi buồn ấy lan tỏa khắp không gian, từ dòng sông, đến trời, đến bến, đến gió, đến cồn cát, cũng buồn với nỗi buồn man mác mang tên Huy Cận. Đúng như lời Nguyễn Du trong Kiều “Người buồn cảnh có bao giờ vui?”, đó là nỗi buồn trần gian, nỗi buồn cho thân phận lênh đênh giữa trời Tây trắc trở, một nỗi buồn chung cho tất cả mọi người Việt Nam lúc bấy giờ. Như vậy chỉ là một bài thơ ngắn vỏn vẹn 4 dòng nhưng ta thấy được tình cảm của Huy Cận, và qua đó ta cũng thấy được tài năng của một nhà thơ có nỗi ám ảnh sâu sắc về không gian. Thơ Huy Cận vừa cổ điển vừa hiện đại, rất ý nghĩa và sâu sắc. Đọc kỹ, ta như đắm chìm trong thơ ông để cùng buồn với nỗi buồn của ông. 4. Phân tích khổ thơ thứ 2 bài Tràng Giang ấn tượng nhất Tràng Giang là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của Huy Cận “gần như trở thành cổ điển” Xuân Diệu. Cảm hứng của bài thơ được khơi dậy từ một buổi tiếp tân mùa thu năm 1939, khi tác giả đứng ở bờ nam bến Chèm nhìn dòng sông Hồng mênh mông sóng nước mà ngẫm nghĩ về kiếp người thật nhỏ bé, cô đơn, vô định. Tuy nhiên, bài thơ không chỉ bởi sông Hồng gợi cảm mà còn mang những nỗi niềm chung về nhiều dòng sông khác của quê hương, đất nước. Vì vậy, cảnh sóng nước trong bài thơ đẹp buồn nhưng cũng thân thuộc, gần gũi với mỗi người Việt Nam. Qua bài thơ ta còn thấy được cái nồi sầu vũ trụ của Huy Cận. Đó là cảm giác cô đơn trước sự vô tận của bầu trời bao la. Tiếp nối ý thơ gợi ra từ khổ thơ đầu. Huy Cận đã thêm những nét thô để miêu tả cái nhỏ bé, hiu quạnh, xa vắng và nỗi buồn của tâm hồn con người đã thấm sâu vào tạo vật, ở đây Huy Cận đã sử dụng hàng loạt hình ảnh, từ ngữ đượm buồn “Cồn” giữa sông đã gợi sự trống trải, hiu quạnh, nay thêm “cồn nhỏ” lại càng buồn hơn với từ “nhàn” ở trước và “gió lộng” ở sau, không chỉ buồn mà còn gợi. Cảm thấy mình quá nhỏ bé, thưa thớt và lạnh lẽo, Huy Cận đã từng tâm sự rằng khi khổ thơ trên chịu ảnh hưởng của bài thơ trong Chinh phụ ngâm Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo Bến Phì gió thối đìu hiu mấy gò Câu thơ thứ hai có hai cách hiểu khác nhau. Có người cho rằng “trụ” có nghĩa là “không”, giữa không gian rộng lớn, vắng vẻ ấy lại không có cả tiếng rao quen thuộc của buổi chợ chiều càng làm cho khung cảnh thêm hoang vắng. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng có tiếng chợ chiều nhưng âm thanh nhỏ quá nên tạo không khí cho khung cảnh thêm tươi vui, sinh động nhưng ngược lại lại thêm vắng vẻ, hiu quạnh. Do đó, phân tích theo một trong hai cách này đều có thể chấp nhận được, miễn là thể hiện được bầu không khí suy tàn, buồn bã và cô tịch. Không gian thơ bỗng rộng mở đến vô cùng. Đây là cảm xúc vũ trụ mãnh liệt và tinh tế của Huy Cận Khi mặt trời mọc, cảm giác về khoảng cách trời đất trở nên hữu hạn, và khi mặt trời lặn, mặt trời mọc làm cho bầu trời quang đãng và như thể nó dày vô tận. Khi đó, người nhìn từ dưới lên sẽ thấy bầu trời sâu “chót vót”. Huy Cận không dùng từ “cao” mà dùng từ “sâu” vì nó vừa gợi độ cao vừa gợi sức hấp dẫn, chiều sâu của bầu trời hoàng hôn, từ “tháp” tô thêm vẻ rùng rợn cho khung cảnh. Đến câu thơ tiếp theo, cùng với cái “sâu” của bầu trời là cái bao la của vũ trụ và chiều dài của dòng sông, tất cả là một vẻ đẹp hùng vĩ mà hoang vắng, gợi nỗi buồn cô đơn, thấm thía , cái “khoảnh khắc” mơ hồ của con người trước vũ trụ, trước “trời rộng, sông dài”. Trong không gian ba chiều bao la ấy, hình ảnh bến sông hiện lên nhỏ bé, hiu quạnh. “Bến vắng” thêm hiu quạnh, lạnh lẽo, buồn bã. Biện pháp nghệ thuật tương phản được Huy Cận sử dụng rất thành công, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Huy Cận nói riêng, các nhà thơ lãng mạn nói chung, đã mang tâm trạng buồn bã, cô đơn của mình “vượt khỏi thiên nhiên”. Tuy nhiên, trong sâu thẳm của nỗi buồn vũ trụ ấy vẫn là một tình yêu quê hương tha thiết. Điều đó giải thích vì sao nhà thơ Xuân Diệu đã nhận xét “Tràng Giang là bài thơ hát những dòng sông đất nước, dọn đường cho tình yêu đất nước”.
Phân Tích 2 Khổ Cuối Bài Tràng Giang ❤️️ 13 Mẫu Khổ 3 4 Hay ✅ Đón Đọc Tuyển Tập Bài Văn Mẫu Đặc Sắc Nhất Được Chọn Lọc Và Chia Sẻ Tại Dàn Ý Phân Tích 2 Khổ Cuối Bài Tràng Giang Của Huy CậnBài Văn Phân Tích Hai Khổ Cuối Của Bài Tràng Giang – Mẫu 1Phân Tích Tràng Giang 2 Khổ Cuối Hay Nhất – Mẫu 2Phân Tích Khổ 3 4 Bài Tràng Giang Ngắn Gọn – Mẫu 3Phân Tích 2 Khổ Cuối Bài Tràng Giang Ngắn Nhất – Mẫu 4Phân Tích 2 Khổ Cuối Bài Tràng Giang Siêu Ngắn – Mẫu 5Phân Tích Hai Khổ Thơ Cuối Bài Tràng Giang Chi Tiết – Mẫu 6Phân Tích Bài Thơ Tràng Giang 2 Khổ Cuối Đầy Đủ – Mẫu 7Phân Tích 2 Khổ Thơ Cuối Bài Tràng Giang Nâng Cao – Mẫu 8Phân Tích 2 Khổ Cuối Tràng Giang Học Sinh Giỏi – Mẫu 9Văn Mẫu Phân Tích Tràng Giang Khổ 3 4 Đơn Giản – Mẫu 10Phân Tích Bài Tràng Giang 2 Khổ Cuối Ngắn Hay – Mẫu 11Phân Tích Hai Khổ Cuối Bài Tràng Giang Lớp 11 – Mẫu 12Phân Tích 2 Khổ Cuối Bài Tràng Giang Facebook – Mẫu 13 Lập dàn ý phân tích 2 khổ cuối bài Tràng giang của Huy Cận sẽ giúp các em học sinh nắm được bố cục và luận điểm khi làm bài. Tham khảo chi tiết mẫu phân tích 2 khổ cuối bài Tràng giang dàn ý như sau I. Mở bài phân tích 2 khổ cuối bài Tràng giang Giới thiệu về tác giả Huy Cận và bài thơ Tràng dắt vào vấn đề hai khổ thơ cuối trong bài Tràng giang. II. Thân bài phân tích 2 khổ cuối bài Tràng giang 3 Hình ảnh những cánh “bèo dạt” lại gợi lên cảm giác chia li đã xuất hiện từ đầu thi cô quạnh đã được đặc tả bằng cái không tồn tại không gian mênh mông, trong đó không có bất cứ dấu hiệu nào là của thế giới con người không cầu, không chuyến đò ngang.Nỗi buồn này như vậy không chỉ là nỗi buồn giữa trời rộng, sông dài mà còn là nỗi buồn về cuộc đời và nhân thế. cuối -Hai câu đầu Các hình ảnh mây, núi, gió được thể hiện rất rõ và nổi bật qua đoạn thơHình ảnh lớp mây thể hiện nỗi buồn của tác giả vô bờHình ảnh cánh chim lẻ loi, thể hiện nỗi buồn của tác giả thêm sâu nặngHình ảnh cánh chim không chỉ báo hiệu hoàng hôn mà còn chỉ cái tôi nhỏ nhoi, cô độc của tác giả -Hai câu cuối Nhà thơ có cảm giác nhớ quê hương khi đứng trước cảnh thiên nhiênNỗi buồn của Huy Cận được thể hiện rất sâu sắc và nổi bậtKhát vọng sự đẹp đẽ, tươi đẹp về quê hương đất nước, góp sức mình cho quê hương, đất nước III. Kết bài phân tích 2 khổ cuối bài Tràng giang Nêu cảm nhận của em về hai khổ thơ cuối của bài thơ Tràng giang Giới thiệu cùng bạn 🍀 Dàn Ý Bài Tràng Giang Chuẩn Nhất 🍀 Mẫu Nghị Luận Hay Bài Văn Phân Tích Hai Khổ Cuối Của Bài Tràng Giang – Mẫu 1 Tham khảo bài văn phân tích hai khổ cuối của bài Tràng giang dưới đây sẽ giúp các em học sinh có được những định hướng làm bài cụ thể. Thơ là cây đàn muôn điệu của tâm hồn, của nhịp thở con tim, thơ diễn tả rất thành công mọi cung bậc cảm xúc của con người, niềm vui, nỗi buồn hay cả sự cô đơn tuyệt vọng. Mang trong mình sứ mệnh cao cả của một nhà thơ khi sáng tạo nghệ thuật cùng với nỗi buồn thế sự sâu sắc, Huy Cận đã xây dựng được một phong cách hoàn toàn mới mẻ, khác với những nhà thơ cùng thời. Tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của ông có thể kể đến Tràng giang trong tập Lửa thiêng. Bài thơ được gợi cảm xúc từ một buổi chiều thu năm 1939 khi tác giả đứng ở bờ Nam Bến Chèm. Trước cảnh sông Hồng mênh mang sóng nước, những cảm xúc thời đại đã dồn về lúc thi sĩ băn khoăn, suy nghĩ về sự biến đổi của thế sự với cảm xúc dạt dào khi thấy cái tôi nhỏ bé trước vũ trụ bao la. Đặc biệt qua hai khổ thơ cuối của đoạn thơ là một nỗi buồn tràng giang như một sự ám ảnh lan tỏa khắp không gian vũ trụ, hoàn toàn vắng bóng giai nhân mà chỉ đơn độc một nỗi niềm của một người “sống trên quê hương nhưng luôn cảm thấy thiếu quê hương” “Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;Mênh mông không một chuyến đò cầu gợi chút niềm thân mật,Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều quê dợn dợn vời con nước,Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.” Tính chất lãng mạn của bài thơ trước hết là Huy Cận đã phủ lên cảnh vật, không gian những cảm xúc, những nỗi niềm tâm trạng của mình. Đó là nỗi buồn, sự xúc động mạnh mẽ trước cảnh sông nước, cảnh bèo dạt gợi nỗi sầu muôn trùng “Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;” Ta chợt bắt gặp sự tương đồng giữa “bèo dạt về đâu” với “bèo dạt mây trôi” trong dân ca quan họ từng gợi lên trong lòng nhiều cảm xúc mơ hồ. Hình ảnh ẩn dụ cánh bèo bao giờ cũng gợi lên sự vô định, xa xăm, lênh đênh. Không chỉ dừng lại ở đó, câu hỏi tu từ cùng điệp từ “hàng” như trải rộng nỗi buồn trên sóng nước tràng giang. Liệu những cánh bèo đó sẽ trôi dạt về phương trời nào, hay cứ mãi bấp bênh, trôi nổi như số phận đại đa số người dân trong hoàn cảnh đất nước lầm than? Sống trong thời khói lửa còn đốt cháy quê hương, thi nhân không khỏi xót xa trước cuộc đời đầy biến động, đổi thay, biến con người ta thành như những cánh bèo trôi dạt vô hướng kia. Buồn rồi lại buồn hơn, muốn tìm một nơi bấu víu, một chút hơi ấm của sự sống nhưng cái nhà thơ nhận được chỉ là sự hiện diện của những cái không có “Mênh mông không một chuyến đò cầu gợi chút niềm thân mật,Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.” Chiếc cầu, con đò vốn là những thứ nối liền đôi bờ, là sự giao nối giữa con người với nhịp sống, thường gợi sự gần gũi và gợi nhớ quê hương. Nhưng buồn thay, ở đây lại không có một chiếc cầu cũng chẳng có con đò nào lại qua. Điệp từ “không” hai lần như nhấn mạnh sự cô đơn, trống trải có thật trong lòng người. Hai bờ sông mà như hai thế giới, không một chút liên hệ, không một chút giao hòa. Hai bên bờ chạy song song, cùng “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”, không một chút thân mật, chỉ có bờ tiếp bờ, bãi tiếp bãi. Từ láy “lặng lẽ” được đưa lên đầu dòng thơ cùng âm điệu trầm buồn càng tô đậm cái cô tịch, vắng lặng. Thi sĩ đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật cổ điển quen thuộc lấy không để nói cái có, càng nhấn mạnh nhiều cái không càng gợi ra nhiều cái có, cảnh vật vắng vẻ không có gì lại gợi ra nhiều nỗi buồn chất chồng trong tâm trí. Đưa tầm nhìn lên trời cao thầm mong sẽ tìm được chút niềm vui nhưng lại càng khiến lòng buồn hơn “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.” Thiên nhiên, cảnh vật, tạo vật qua tâm hồn Huy Cận tuy trầm buồn nhưng lại bộc lộ một vẻ đẹp kì vĩ, nên thơ. Mây trắng hết lớp này đến lớp khác như những búp bông trắng khổng lồ cứ liên tiếp nở ra, ánh trời chiều chiếu vào trông như quả núi dát bạc trong nền trời trong xanh khiến cho ánh chiều trước khi vụt tắt ánh lên vẻ đẹp. Câu thơ dựng lên được một hình ảnh rất tạo hình như một bức tranh sơn mài, đằng sau bức tranh là nỗi lòng thi nhân. Từ láy “lớp lớp” diễn tả nhiều lớp kế tiếp nhau, lớp nọ liền lớp kia đều đặn không dứt. “Đùn” diễn tả những đám mây và cũng là nỗi sầu tự mở ra, liên tiếp như có một sức đẩy từ bên trong. Đúng là “Sầu đong càng lắc càng đầy”. Câu thơ Huy Cận làm ta liên tưởng đến câu thơ dịch trong bai “Thu hứng” nổi tiếng của Đỗ Phủ “Mặt đất mây đùn cửa ải xa.” Bài thơ Tràng giang gợi nổi buồn man man thiên cổ của Huy Cận. Tất cả cảnh vật liên quan đến con người đều không hiện hữu, qua đó thấy được nổi cô đơn của Huy Cận truớc cảnh thiên nhiên rộng lớn, trong đó thấm đậm tình người, tình đời, tình yêu nước tha thiết. Gợi ý cho bạn ☔ Sơ Đồ Tư Duy Tràng Giang ☔ 12 Mẫu Tóm Tắt Hay Phân Tích Tràng Giang 2 Khổ Cuối Hay Nhất – Mẫu 2 Đón đọc bài văn mẫu phân tích Tràng giang 2 khổ cuối hay nhất được chọn lọc và chia sẻ dưới đây dành cho các em học sinh. Thơ là cây đàn muôn điệu của tâm hồn, của nhịp thở con tim. Thơ diễn tả rất thành công mọi cung bậc cảm xúc của con người, niềm vui, nỗi buồn, sự cô đơn tuyệt vọng… Có những tâm trạng của con người chỉ có thể diễn tả bằng thơ. Vì vậy thơ không chỉ nói hộ lòng mình, mà thơ còn thể hiện được nỗi buồn thiên cổ của cả một thế hệ mang trong mình cái tôi cô đơn, bế tắc trước cảnh nước mất nhà tan. “Tràng Giang” là một bài thơ như thế. Đặc biệt điều đó được thể hiện rõ nhất qua hai khổ thơ cuối của tác phẩm. “Bèo dạt về đâu hàng nối hàngMênh mông không một chuyến đò ngangKhông cậu gợi chút niềm thân mậtLặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng Lớp lớp mây cao đùn núi bạcChim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều saLòng quê rờn rợn vời con nướcKhông khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Quả không sai khi nói rằng, với người làm thơ bài thơ là một phương diện biểu đạt tình cảm, tư tưởng chỉ có cảm xúc chân thành mãnh liệt với là cơ sở cho sự ra đời một tác phẩm nghệ thuật chân chính, cảm xúc càng mãnh liệt thăng hoa thì thơ càng nhiều khả năng chinh phục ám ảnh trái tim người đọc. Mang trong mình sứ mệnh cao cả của một nhà thơ khi sáng tạo nghệ thuật. Huy Cận đã không ngừng tìm tòi sáng tạo để tìm ra lối đi cho riêng mình và ông đã khẳng định được vị trí của mình trong nền thơ hiện đại Việt Nam. Tiêu biểu cho phong cách của Huy Cận có thể kể đến “Tràng Giang” theo lời kể của Huy Cận bài thơ được gợi cảm xúc từ một buổi chiều mùa thu năm 1939 khi tác giả đứng ở bờ Nam Bến chèm, trước cảnh sông Hồng mênh mông sóng nước, nhiều cảm xúc thời đại dội về khi thi sĩ thấy cái tôi của mình quá nhỏ bé so với vũ trụ bao la, nên ông đã gửi gắm cả vào bài thơ này. “Tràng giang” là một từ Hán Việt gợi tả liên tưởng tới không gian cổ kính, trang trọng “tràng” là một âm độc khác của từ trường trong tiếng Hán, hay âm “ang” đi liền với nhau đã gợi cảm giác về một con sông không chỉ dài vô cùng mà còn rộng mênh mông và ta cảm thấy con sông ấy không chỉ là dòng sông hồng đỏ nặng phù sa, mà đó còn là con sông của ngàn xưa trong tâm tưởng. Câu thơ đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”, đã thâu tóm và gợi mở cảm xúc chủ đạo của bài thơ trước cảnh trời rộng, sông dài. Lòng người đã giấy lên tâm trạng bâng khuâng và nhớ, từ láy “Bâng Khuâng” đã diễn tả được tâm trạng của chủ thể trữ tình buồn bã, u sầu, cô đơn, lạc lõng và con sông dài miên man tít tắp ấy cứ vỗ đều đặn khắp các khổ thơ, cứ cuộn sóng lên mãi trong lòng nhà thơ làm rung động biết bao trái tim bạn đọc nhiều thế hệ. Nếu ở hai câu thơ đầu nhà thơ miêu tả bức tranh thiên nhiên cùng nỗi sầu trăm ngả, gợi tả sự giận dữ vô cùng, vô tận của đất trời cùng cái tôi nhỏ bé, cô đơn của con người, thì đến khổ thơ thứ ba, tứ thơ trời rộng, sông dài đã được đẩy lên một bậc cao hơn. “Bèo dạt về đâu hàng nối hàng”. Câu hát bèo dạt mây trôi trong dân ca quan họ đã từng gợi lên trong lòng ta bao cảm xúc mơ hồ, thì trong bài thơ này Huy Cận cũng mượn hình ảnh của cánh bèo trôi trên sông để gợi lên sự hợp tan, chia lìa của một kiếp người chuân chuyên, sông cứ chảy bèo cứ trôi và đôi bờ cứ hun hút như không bao giờ có sự gặp gỡ và con người càng khát khao càng thấm thía. “Mênh mông không một chuyến đò ngangKhông cầu gợi chút niềm thân mậtLặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”. Cảm giác cô đơn khiến nhà thơ muốn tìm sự kết nối gắn bó. Nhưng càng tìm càng chẳng thấy, hai câu thơ với hai lần phủ định “không đò”, “không cầu” dường như càng tô đậm hơn cái mênh mông của sông nước và nhấn mạnh thực trạng không có sự giao lưu gặp gỡ giữa người với người. Hai bên bờ sông lạnh, từ hoang dại như một bờ tiền sử hồn nhiên, như một nỗi niềm cổ tích tuyệt nhiên không hề có dấu hiệu của sự sống mà hiện diện ở đó chỉ có con người. Cái Tôi cô đơn của tác giả đang đối diện với cái vô cùng, vô tận, vô chung, vô thủy của không gian, thời gian nhìn đâu cũng chỉ thấy “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”, để từ đó Huy Cận đối diện với lòng, bày tỏ những niềm tâm sự sâu kín về tình yêu với quê hương đất nước. “Lớp lớp mây cao đùn núi bạcChim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều saLòng quê rờn rợn vời con nướcKhông khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Cảnh sắc thiên nhiên ở khổ thơ này đẹp đẽ và kỳ vĩ đến lạ lùng, ở phía chân trời xa những đám mây trắng cứ đùn lên lớp lớp được ánh chiều phản chiếu lấp lánh như những hòn núi bạc khổng lồ. Cảnh tượng hùng vĩ ấy gợi ta liên tưởng tới bài “thu hứng” của Đỗ Phủ. “Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳmMặt đất mây đùn cửa ải xa”. Trên cảnh trời mây sông nước bao la bỗng nhiên xuất hiện một cánh chim bé bỏng lạc đàn. Cánh chim càng nhỏ bé cô đơn bóng chiều càng xa xuống, rớt xuống cảnh chiều càng buồn hơn. Phải chăng cánh chim bé nhỏ ấy chính là hình ảnh của nhà thơ khi “Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước”, trước cảnh nước mất, nhà tan. Chỉ biết rằng trong khổ thơ thi sĩ như kẻ lữ thứ lạc vào một hoang đảo trơ trọi, cô đơn đến tuyệt đối. Hai chữ “rờn rợn” là từ láy thể hiện sự sáng tạo của tác giả diễn tả tâm trạng nôn nao, day dứt của lòng người đang gợi lên như những cột sóng trong tâm hồn, đó là nỗi nhớ quê hương khi đang đứng giữa quê hương. Đến đây nỗi nhớ ấy đã được nhà thơ giãi bày. “Lòng quê rờn rợn vời con nướcKhông khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Hơn 1000 năm trước, khi đứng trước nước non, mây trời nhà thơ thời hiệu ở Trung Quốc đã từng chạnh lòng. “Nhật mộ hương quan hà xứ nhịYên ba giang thượng sử nhân sầu.Quê hương khuất bóng hoàng hônTrên sông khói sóng cho vừa lòng ai. Người xưa nhìn thấy khói sóng trên sông mà nhớ tới quê hương, lấy khói sóng làm duyên cơ cho nỗi nhớ nhà. Còn Huy Cận nỗi nhớ nhà luôn thường trực trong tâm, nên ông không cần phải lấy bất cứ khói nào để làm duyên cơ, ông nhớ nhà như để chạy trốn cái cô đơn mà đó ông gọi là lòng quê. Với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phong cách cổ điển và hiện đại, kết hợp với thể thơ 7 chữ, cách ngắt nhịp gieo vần đăng đối tả cảnh ngụ tình “Tràng Giang” nói chung và hai khổ thơ cuối nói riêng thực sự là bức tranh thiên nhiên độc đáo, cùng với những tâm trạng, nỗi lòng rất khó để thổ lộ của nhà thơ. Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất Phân Tích Khổ 3 4 Bài Tràng Giang Ngắn Gọn – Mẫu 3 Bài văn phân tích khổ 3 4 bài Tràng giang ngắn gọn dưới đây sẽ giúp các em học sinh tham khảo cách hành văn súc tích và cô đọng nội dung. Trong số các nhà thơ mới trước Cách mạng, Huy Cận là một nhà thơ có chất thơ ảo não nhất. Thơ ông luôn chất chứa một nỗi sầu nhân thế. “Tràng Giang” là một bài thơ gắn liền với tên tuổi của Huy Cận với những nỗi niềm yêu nước thiết tha. Đặc biệt, nỗi niềm thương nhớ ấy càng được thấy rõ trong phần phân tích hai khổ thơ cuối bài Tràng giang dưới đây Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;Mênh mông không một chuyến đò cầu gợi chút niềm thân mật,Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều quê dợn dợn vời con nước,Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Trước mắt người đọc hiện lên một khung cảnh hắt hiu Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;Mênh mông không một chuyến đò cầu gợi chút niềm thân mật,Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Từng đám bèo cứ lặng lẽ nối tiếp nhau trôi theo dòng nước mà không biết trôi về đâu, tựa như dòng đời bơ vơ, vô định, cảm thấy mình bất lực và nhỏ bé. Ở đây có sự đối lập giữa những thứ đang có và những thứ không có. Chỉ có dòng nước mênh mông với những cánh bèo nối tiếp nhau trôi trong vô định, không có lấy một cây cầu dù chênh vênh, không có lấy một con đò dù nhỏ bé. Hai bên bờ sông mà như hai thế giới, không có một chút liên hệ nào, dù gần mà cũng thành xa xôi không thể với tới. Hai bên bờ chạy song song, cùng “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”, ko chút thân mật, không chút giao hòa nào cả. Khung cảnh thiên nhiên ấy, cũng như tâm trạng của nhà thơ vậy. Giữa trời đất bao la nhưng không tìm được những tâm hồn đồng điệu với mình, không ai có thể hiểu mình. Nỗi cô đơn cứ thế chồng chất chất chồng, làm cho con người ta càng cảm thấy nhỏ bé giữa thiên nhiên, càng khao khát hơn sự đồng cảm, yêu thương. Không nhìn dòng nước buồn hiu hắt nữa, nhà thơ dắt chúng ta nhìn đến cao hơn Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa. Trong thơ của Huy Cận cũng có cánh chim và đám mây như trong một số bài thơ cổ nói về buổi chiều, tuy nhiên, hai hình ảnh này không có tác dụng hô ứng cho nhau như trong thơ cổ, mà chúng còn có ý nghĩa trái ngược nhau. Trong buổi chiều muộn, nhưng từng lớp, từng lớp mây trên cao kia vẫn chất chồng lên nhau, tạo thành những núi bạc, nổi bật trên nền trời xanh trong. Đây là một cảnh vật hùng vĩ biết bao! Đó không phải đám mây cô đơn lững lờ giữa tầng không khi chiều về như trong thơ của Hồ Chí Minh. Mây ở đây chất chồng, ánh lên trong nắng chiều, làm cho cả bầu trời trở nên đẹp đẽ và rực rỡ. Giữa khung cảnh ấy, một cánh chim nhỏ nhoi xuất hiện. Cánh chim bay giữa những lớp mây cao đẹp đẽ, hùng vĩ như càng làm nổi bật lên cái nhỏ bé của nó. Nó đơn côi giữa trời đất bao la, tựa như tâm hồn nhà thơ bơ vơ giữa đất trời này. Đặt cánh chim và những núi mây bạc ở thế đối lập, đã tô đậm thêm nỗi buồn trong lòng nhà thơ. Nỗi buồn như thấm đượm, lan tỏa trong khắp cả không gian Lòng quê dợn dợn vời con nước,Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Tầm mắt trở lại trên dòng nước. Từng đợt sóng nước dập dềnh, nhẹ nhàng uốn lượn nhưng cũng tồn tại rất lâu, lan tỏa rất xa. Đó là hình ảnh miêu tả, nhưng cũng chính là tâm trạng của tác giả – một cảm giác cô đơn, Người xưa nhìn khói sóng trên dòng sông khi chiều tà mà cảm thấy nhớ nhà. Còn Huy Cận không cần thấy khói hoàng hôn nhưng trong lòng vẫn dâng lên một nỗi nhớ quê hương da diết. Đó như một thứ tình cảm thường trực vẫn luôn chất chứa trong lòng người con xa quê, mà không cần một tác động nào từ bên ngoài, vẫn thấy nhớ quê, thương quê. Phân tích 2 khổ cuối bài Tràng giang càng thấy rõ hơn bức tranh quê hương đẹp đẽ, nên thơ với những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam như bờ sông, cánh bèo, củi khô, áng mây. Đó là tình yêu quê hương đất nước sâu nặng, đã thấm vào từng con chữ. Đồng thời trong đó cũng thể hiện khát khao tìm được sự đồng điệu trong thế giới bao la của một tâm hồn thi sĩ luôn băn khoăn một “nỗi sầu nhân thế”. Đón đọc tuyển tập 💕 Nghị Luận Tràng Giang 💕 15 Bài Văn Ngắn Gọn Hay Nhất Phân Tích 2 Khổ Cuối Bài Tràng Giang Ngắn Nhất – Mẫu 4 Với bài văn phân tích 2 khổ cuối bài Tràng giang ngắn nhất dưới đây, các em học sinh có thể nhanh chóng ôn tập và chuẩn bị cho bài viết trên lớp. Huy Cận tưởng như là người lữ khách với niềm đam mê bất tận về một vẻ đẹp buồn âu sầu ảo não, vậy nên thi nhân đã không ngại bỏ buồn vào không gian, lượm lặt từ những chất thơ tế vi mỏng manh của tạo vật để làm nên những bức tranh không gian mang nỗi hoài cổ của chính mình. Hai khổ thơ cuối Tràng Giang là những vần điệu mang đậm nét âm hưởng ấy. “Bèo dạt về đâu hàng nối hàngMênh mông không một chuyến đò ngangKhông cầu gợi chút niềm thân mậtLặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”. Hình ảnh cánh bèo từ bao lâu nay gửi mình vào trong thơ luôn là hình ảnh gợi về sự mỏng manh, vô định và rẻ rúm của kiếp người. Trên điệu chảy nhịp trôi chầm chậm của câu thơ này, một lần nữa xúc cảm ấy lại được gợi về. Những hàng bèo nối đuôi nhau, cứ chảy trôi bất tận, dòng sông hay cũng chính là dòng đời vô định chảy trôi khiến cho kiếp người bé nhỏ cảm thấy bơ vơ, bế tắc và mất phương hướng. câu thơ mang âm hưởng buồn man mác, một nỗi buồn đậm chất Huy Cận. Nhất là hình giữa dòng mênh mông vô bờ ấy, một chuyến đò ngang gợi niềm thân mật, gợi sự kết nối cũng không xuất hiện dù chỉ thoáng qua, mà còn lại đây chỉ đơn côi với những cánh bèo vô thức trôi. Chính vì thế không gian sông nước vốn dĩ mênh mông, vốn dĩ đã làm nên những biển buồn bất tận bỏ vào lòng người, nhưng nay không chỉ là sức gợi vô tận về nỗi buồn mà còn mang một chiều sâu khác về sự đứt gãy nối kết. Biểu tượng cây cầu bao giờ cũng là điểm tựa để cho người đọc cảm nhận mãnh liệt nhất về sự gắn kết, của sự gắn bó và nối tiếp. Thế nhưng ở đây, nó không xuất hiện phải chăng là một chỉ dấu ngầm cho sự đứt gãy kết nối, đứt gãy những mắt xích gắn kết, hay cũng là một chỉ dấu để độc giả cảm nhận được về sự cô đơn trống vắng hoang hoải đến bất tận trong tâm hồn con người. Còn đò ngang là nơi bấu víu, là nơi con người tìm đến để có thể vượt qua cách trở về không gian mà đến gần với nhau hơn, nhưng giờ đây ngay cả điểm tựa duy nhất ấy cũng đã biến mất không dấu vết. Trả lại cho nhân vật trữ tình chỉ là những bãi trống hoang hoải cô liêu của bờ xanh bãi vàng, ta bỗng nhớ đến hình ảnh những bãi xanh hun hút bận tận không cùng trong câu thơ Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm. Các tính từ, các từ láy “lặng lẽ” một lần nữa nhấn thêm vào sự trống vắng, mênh mông và cô đơn vời vợi của tâm hồn, của lòng người. “Lớp lớp mây cao đùn núi bạcChim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều saLòng quê dợn dợn vời con nướcKhông khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Khổ thơ cuối có thể coi là tuyệt bút tuyệt hoa mà Huy Cận đặc dùng. Mây cao núi bạc, khung cảnh mới thật hùng vĩ, tráng lệ làm sao, đó là những chất liệu mang màu cổ điển được họa sĩ Huy Cận vờn phối cho bức tranh chiều tà nhuốm màu buồn man mác của chính mình. Khiến cho chỉ một câu thơ ngắn, nhưng lại gợi về thăm thẳm những mênh mông và rợn ngợp từ quá khứ đuổi về hiện tại, từ cổ điển gọi về hiện đại. Cánh chim gọi buổi chiều, tín hiệu ấy dường như không còn xa lạ nữa, thế nhưng vào trong thơ Huy Cận nó vẫn chở những xúc cảm của riêng nhà thơ vào trong đó. Tưởng như cánh chim nhỏ bé và đơn côi ấy, đã chờ cả buổi hoàng hôn trên đôi cánh của mình, tưởng như đã chở cả cái không cùng và cô đơn vời vợi của kiếp người ở trên đó. Dấu hai chấm tưởng như một sự ngăn cánh, để làm điểm nhấn cho độ nghiêng rất nghệ mà cũng rất tinh của cánh chim nhỏ, hay có thể là dụng ý của nhà thơ để cả câu thơ nâng đỡ cả điệu hồn của thi nhân gửi vào đó. Hai câu thơ cuối, đứng trước thiên nhiên rộng lớn mênh mông, thi nhân bỗng trào dâng một nỗi nhớ nhà khôn nguôi, nỗi nhớ ấy là nỗi nhớ luôn trở đi trở lại như một lời khấn khứa, như một khắc khoải khôn nguôi xuất phát từ tấm lòng của một cái tôi đứng trên quê hương mà vẫn cảm thấy thiếu vắng quê hương. Hoàng hôn thường là mốc thời gian gợi nhớ gợi buồn, nhưng ở đây không gian ấy chỉ đơn thuần là ngoại giới, còn trong nội tâm nhà thơ, thì toàn bộ tâm hồn đã hướng trọn về tình quê mất rồi. Lấy cái không để gợi về cái có, để gợi về nỗi lòng, để khơi gợi sự đồng điệu đó chính là cái tài trong bút thơ Huy Cận. Hai khổ thơ cuối Tràng Giang, dường như là những mạch chảy mạnh mẽ nhất của tâm trạng thi nhân, tưởng như nếu lắng mình nghiêng lòng xuống trang sách có thể cảm được điệu tâm hồn buồn và cô đơn của cái tôi thơ Mới chở mang trong đó. Giới thiệu đến bạn 🌟 Phân Tích Tràng Giang Huy Cận 🌟 Những Bài Hay Nhất Phân Tích 2 Khổ Cuối Bài Tràng Giang Siêu Ngắn – Mẫu 5 Tham khảo bài văn phân tích 2 khổ cuối bài Tràng giang siêu ngắn dưới đây với những luận điểm tóm lược trọng tâm nhất. Nhà thơ Huy Cận là một nhà thơ nổi tiếng với làng thơ mới, mỗi tác phẩm của ông đều gửi gắm những tâm trạng, nỗi buồn phiền, sầu muộn của mình trong đó. Bài thơ Tràng Giang là một bài thơ tiêu biểu gắn liền với Huy Cận, thể hiện nỗi buồn của tác giả trước nhân tình thế thái, trước nỗi buồn nhân thế. Thể hiện tình cảm yêu quê hương, đất nước của tác giả. Đặc biệt là hai khổ thơ cuối thể hiện rõ nét tâm trạng phiền não, sầu muộn của tác giả Huy Cận với những nỗi sầu nhân thế. “Bèo dạt về đâu hàng nối hàngMênh mông không một chuyến đò ngangKhông cầu gợi chút niềm thân mậtLặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng” Hình ảnh từng cụm bèo lững lờ trôi trên sông vô định không biết đời mình rồi sẽ đi đâu về đâu, trong bối cảnh không gian mênh mông sông nước trời biển bao la, thời gian là cảnh chiều tà, nhìn những đám bèo trôi vô định, không có phương hướng khiến cho tác giả cảm thấy nôn nao buồn. Một nỗi buồn nhân thế không biết tỏ bày cùng ai, chỉ có thể gửi gắm vào những câu thơ của riêng mình. Trong câu thơ “mênh mông” hai từ láy này gợi lên cho người đọc sự sầu muộn bao la, trước cảnh sông chiều nhưng không có một con đò nhỏ để qua sông, càng làm cho lòng người thêm man mác. Tác giả đã sử dụng nghệ thuật đối lập giữa không gian và con người bé nhỏ, không gian càng mênh mông thì con người càng cảm thấy mình thật cô đơn bé nhỏ, lạc lõng biết bao nhiêu. Khung cảnh thiên nhiên thể hiện như tâm trạng của nhà thơ Huy Cận lúc này đều gợi lên tâm trạng buồn. Giữa đất trời sông nước bao la không tìm được một người bạn tâm giao tri kỷ, không ai có thể hiểu nỗi lòng của tác giả, làm cho nỗi cô đơn cứ thế mà xô sóng ở trong lòng, con người cảm thấy mình thật bé nhỏ, bất lực trước cuộc sống hiện tại. “Lớp lớp mây cao đùn núi bạcChim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.” Cánh chim chiều nghiêng bóng trước hoàng hôn, một cánh chim nhỏ nhoi lẻ loi trên bầu trời bao la rộng lớn, thể hiện sự cô liêu khắc khoải. Cánh chim chiều chao nghiêng kia phải chăng chính là hiện thân của tác giả lúc này, đang cảm thấy trào dâng nghiêng ngả những cơn sóng lòng. Đang cảm thấy mình lẻ loi, cô đơn trước cuộc đời bao la rộng lớn. Thiên nhiên trong khổ thơ này gợi lên cho người đọc cảm giác buồn thê lương, não lòng, đúng như câu thơ của Nguyễn Du viết trong tác phẩm Truyện Kiều rằng Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” để thể hiện sự cô đơn, lẻ loi buồn chán của tác giả trước thiên nhiên, cuộc đời. Tác giả Huy Cận đã vô cùng tinh tế khi đặt cánh chim đối lập cô đơn với không gian bao la rộng lớn, mênh mông của đất trời, vũ trụ. “Lòng quê rờn rợn vời con nướcKhông khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.” Trong hai câu thơ này thể hiện tâm trạng nhớ nhà nhớ quê hương của tác giả Huy Cận. Người xưa thường nhìn khói lam chiều gợi lên cảnh nhớ nhà, nhớ mùi khói bếp thơm ngai ngái để hướng tới quê hương, gia đình, hướng tới người thân thương nhất của mình. Nhưng Huy Cận viết “không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” thể hiện nỗi nhớ của ông là nỗi nhớ thường trực, nó luôn chứa đựng in sâu trong lòng tác giả, không cần phải có chất xúc tác là khói lam chiều mới nhớ. Bài thơ “Tràng Giang” là một bài thơ vô cùng hay thể hiện bức tranh quê hương trong cảnh hoàng hôn vô cùng tươi đẹp, sinh động, với hình ảnh thân thuộc như cánh chim, mây trời, sông nước, rồi những cánh bèo trôi. Phân tích hai khổ cuối bài Tràng giang xong, chúng ta có thể thấy tất cả đều gợi lên một bức tranh chiều tà vô cùng tinh tế, tươi đẹp nhưng thể hiện một nỗi sầu nhân thế vô cùng sâu sắc trong lòng tác giả. Mời bạn xem nhiều hơn 🌟 Cảm Nhận Bài Thơ Tràng Giang 🌟 10 Bài Văn Mẫu Hay Nhất Phân Tích Hai Khổ Thơ Cuối Bài Tràng Giang Chi Tiết – Mẫu 6 Bài văn mẫu phân tích hai khổ thơ cuối bài Tràng giang chi tiết dưới đây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho các em học sinh. Con người trước không gian rộng lớn bao la luôn có cảm giác nhỏ bé, rợn ngợp. Đứng trước không gian ấy, con người thường có nhiều chiêm nghiệm suy ngẫm về cuộc đời để rồi nhận ra sao ta cô đơn quá. Đó cũng chính là nỗi niềm của Huy Cận khi đứng trước không gian trùng điệp rộng lớn của Tràng giang. Sự cô đơn nhỏ bé ấy được thể hiện rõ trong hai khổ cuối của bài thơ. Bài thơ Tràng giang được viết vào mùa thu năm 1939 khi tác giả đang đứng ở bờ Nam bến Chèm sông Hồng. Nhìn cảnh sông nước rộng lớn và suy nghĩ về kiếp người chính là nội dung của bài thơ. Đặc biệt ở hai khổ cuối dường như không chỉ đơn thuần tả cảnh mà trong đó ta còn bắt gặp tâm trạng của thi nhân. Tràng giang không những là tác phẩm điển hình cho hồn thơ Huy Cận mà còn tiêu biểu cho thơ ca lãng mạn đặc biệt là phong trào Thơ Mới trong giai đoạn 1932-1945. Cảnh chiều trong Tràng giang có chiều kích của không gian cao rộng, có sông nước mênh mang và tất cả đều tiêu sơ, hoang vắng, chất chứa nỗi sầu nhân tình thế thái… Nếu ở hai khổ thơ đầu là khung cảnh thiên nhiên sông nước rộng lớn ngợp trời “Nắng xuống trời lên sâu chót vótSông dài trời rộng bến cô liêu” Thì đến khổ thơ thứ hai khung cảnh và điểm nhìn đã được thu hẹp hơn thể hiện nỗi sầu buồn trong tâm hồn của thi nhân “Bèo dạt về đâu hàng nối hàng;Mênh mông không một chuyến đò ngangKhông cầu gợi chút niềm thân mật,Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.” Không còn là trời rộng là sông lớn, từ cái nhìn bao quát đã trở thành cái nhìn cận cảnh. Hình ảnh bèo quen thuộc xuất hiện. những cánh bèo nhỏ bé thường gọi sự nhỏ bé của kiếp người. Cánh bèo mong manh như chính kiếp người. Nếu cánh bèo không thể tự di chuyển mà bị dòng nước xô đẩy thì con người cũng thế. So với cuộc đời rộng lớn mênh mông thì con người chỉ là những hạt cát nhỏ bé trôi nổi giữa dòng đời. Trong câu thơ dường như thoáng chút bất lực bế tắc. Không chỉ một cánh bèo, một kiếp người mà “hàng nối hàng” nhiều kiếp người cũng đang lạc lõng bơ vơ giữa cuộc đời. Dường như không chỉ có Huy Cận cảm thấy cô đơn thấy lạc lõng ngay chính trên đất nước của mình mà là cả một tầng lớp thanh niên sinh ra trong thời loạn lạc của đất nước. Họ đều như những cánh bèo kia lênh đênh không biết sẽ đi về đâu chỉ đành phó mặc cho dòng đời xô đẩy “Bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nướcBiết chọn một dòng hay để nước trôi.” Huy Cận cũng thế nên ông thấu hiểu cho tình cảnh của những người thanh niên giống ông. Phân tích 2 khổ thơ cuối bài Tràng giang sẽ thấy chỉ một từ láy “mênh mông” nhưng cũng đã đủ diễn tả không gian rộng lớn của đất trời. Không gian như được mở rộng ra vô biên. Và trong không gian rộng lớn ấy chỉ có cánh bèo nhỏ bé lênh đênh, thật cô đơn và tuyệt vọng. Sau khi vẽ ra không gian rộng lớn ấy, nhà thơ đã đi đến một điệp khúc “không” độc đáo. Điệp từ “không” được lặp lại hai lần trong lời thơ – “không một chuyến đò ngang”, “không cầu gợi chút niềm thân mật”. Không có gì cả, không có người cũng chẳng có sự vật. Nỗi cô đơn cứ thế mà ngự trị khắp nơi len lỏi vào không gian xen lẫn vào tâm hồn nhà thơ. Đó cũng chính là điều đã làm nên cái điệu buồn miên man này. Nhưng dường như không chỉ có cảnh vật cô đơn mà con người dường như cũng từ chối cả sự giao tiếp với thế giới xung quanh. Chính con người dường như cũng đang thu mình lại giữa sự cô đơn, khép lại tấm lòng của mình và từ chối giao tiếp với thế giới. Bến và đò vốn muôn đời nối liền nhau, nhắc đến bến là phải nghĩ đến đò nhưng trong câu thơ thì bến trống rỗng mà thuyền cũng chẳng đến. Bến đó nhưng nào có đợi mong thuyền hay một chuyến đò nào sang sông. Tất cả mọi sự vật đều từ chối sự kết nối. Hai khổ thơ cuối bài Tràng giang ta thấy từ láy “lặng lẽ” đã nhấn mạnh thêm sự trống vắng tĩnh lặng đến đáng sợ nơi đây. Trong im vắng cũng chính là lúc người ta sống thật với lòng mình sống thật với những cảm xúc của mình. Nhưng trong im vắng người ta lại cảm thấy cô đơn nhiều hơn, để rồi cần tìm một nơi để nương tựa sẻ chia. “Bờ xanh” tiếp “bãi vàng”, những gam màu đã bắt đầu xuất hiện. Nhưng có màu xanh tươi mát hay màu vàng ấm áp cũng không khiến cho bức tranh này tươi mới hơn mà ngược lại nó càng trở nên âm u tịch mịch. Những gam màu ấy chỉ càng khiến cho cảnh trở nên hiu hắt đìu hiu. Cảnh buồn thấm vào cảnh vào người hay chính nỗi buồn sự cô đơn của con người khiến cảnh vật cũng u ám như câu thơ của Nguyễn Du từng viết “Cảnh nào cảnh chẳng đeoNgười buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Qua đây ta thấy con người đang cô đơn lạc lõng trong không gian rộng lớn, trong thời gian mênh mông vô thủy vô chung của đất trời… Thật không sai khi nói rằng thơ của Huy Cận có sự hòa quyện chặt chẽ giữa chất cổ điển và chất hiện tại. Điều ấy được thể hiện rõ ở khổ thơ cuối “Lớp lớp mây cao đùn núi bạcChim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều saLòng quê dợn dợn vời con nước,Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.” Phân tích 2 khổ thơ cuối bài Tràng giang, ta thấy hình ảnh những đám mây chất chồng lên nhau được diễn tả thật hùng vĩ qua dòng phác họa “lớp lớp mây cao đùn núi bạc”. Từ láy “lớp lớp” diễn tả khối lượng lớn, và dường như còn đang tiếp diễn. Sức sống ấy cứ dâng lên không sao kìm nén được. Sức sống ấy được diễn tả cô đọng qua từ “đùn”. Trong thơ văn, không ít nhà thơ đã dùng từ “đùn” để thể hiện sức sống của cảnh vật như Đỗ Phủ từng viết “Giang giang ba lãng kiêm thiên dũngTái thượng phong vân tiếp địa âm.’Thu hứng Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳmMặt đất mây đùn cửa ải xa. Hay Nguyễn Trãi cũng từng viết “Rồi hóng mát thuở ngày trườngHòe lục đùn đùn tán rợp giương”Cảnh ngày hè Huy Cận cũng sử dụng từ “đùn” ấy để diễn tả sự chất đống, chất dồn của đám mây. Những đám mây xếp chồng lên nhau tạo cho ta cảm giác như những núi bạc đã lơ lửng trên không. Hình ảnh hiện ra thật hùng vĩ làm sao. Trong bức tranh cổ thi ấy, nét động bắt đầu xuất hiện. Đầu tiên chính là “chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”. Hình ảnh con chim cuối ngày thường gợi ra một cảm giác chán chường mệt mỏi như trong câu thơ của Bà huyện Thanh Quan. “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏiDặm liễu sương sa khách bước dồn”. Hay trong câu thơ của Hồ Chí Minh “Quyện điểu quy lâm tầm túc thụCô vân mạn mạn độ thiên không”. Cánh chim của Huy Cận cũng thế chở đầy mệt mỏi lo âu và cả sự cô đơn rợn ngợp. Chú chim nhỏ bé cô đơn giữa bầu trời rộng lớn. Cánh chim nếu so với bầu trời thật quá nhỏ bé cũng như con người với dòng đời này. Ta nhận ra cuộc đời này nếu so với dòng chảy vô tận của thời gian thì chẳng khác nào một hạt cát giữa sa mạc, một giọt nước giữa đại dương. Nếu ở những dòng thời trên thời gian không xuất hiện cụ thể thì ở dòng thơ này thời gian đã được xác định “bóng chiều sa”. Giữa hai sự vật “chim nghiêng cánh nhỏ” và “bóng chiều sa” dường như không có sự kết nối, cho người đọc tự liên tưởng. Chính vì vậy ta có cảm tưởng dường như cánh chim đang chở nặng bóng chiều hay chính cánh chim mỏi mệt đã kéo bóng chiều xuống. Nhưng dù hiểu theo cách nào ta vẫn thấy hình ảnh ấy hiện ra thật tráng lệ. Nỗi buồn của người lữ thứ trước cảnh hoàng hôn rợn ngợp. Từ điểm nhìn trên cao, Huy Cận đã di chuyển điểm nhìn xuống mặt nước quen thuộc “Lòng quê dợn dợn vời con nướcKhông khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.” Lòng quê chính là tình cảm dành cho quê hương đất nước. Hóa ra nhà thơ không chỉ quan tâm đến bản thân mà ngầm trong đó là một tình yêu nước thầm kín. Từ láy dợn dợn gọi tả sự chuyển động nhỏ nhưng diễn ra liên tục không ngừng như một sự ám ảnh. Tình yêu đối với quê hương cũng thế có đôi khi mạnh mẽ có khi khi lại ẩn khuất trong cuộc sống nhưng nó vẫn tồn tại mãi ở đó không khác đi. Không nhắc về nói nhưng mỗi lần nhớ đến vẫn cảm thấy đau nói. Dùng sự vật biểu trưng để nhớ đến quê hương không phải là điều xa lạ. Như Lí Bạch từng nhìn trăng mà nhớ quê hương “Cử đầu vọng minh nguyệtĐê đầu tư cố hương” Hay Thôi Hiệu cũng từng “Nhật mộ hương quan hà xứ thịYên ba giang thượng sử nhân sầu.” Nhưng nếu các thi nhân xưa cần vật để gợi nhớ quê hương thì Huy Cận đang ở trên quê hương mà vẫn nhớ về quê hương. Tại sao một con người đang đứng trên đất nước mình mà lại đi nhớ về quê hương? Bởi lẽ quê hương ta đang bị quân giặc giày xéo, đây không phải là quê hương đúng nghĩa, nên dù đang đứng ngay trên quê hương mình nhưng ông vẫn thấy cô đơn, thấy bơ vơ như những con người xa quê… Phân tích 2 khổ thơ cuối bài Tràng giang nói riêng cũng như toàn bộ tác phẩm nói chung sẽ thấy bài thơ chính là một nỗi buồn cô đơn dài vô tận. Nỗi buồn ấy không chỉ đến từ vạn vật mà còn đến từ chính tâm trạng thi nhân. Đó là tâm trạng của một người không có được tự do trên chính đất nước mình. Giọng thơ đượm buồn kết hợp với những hình ảnh rộng lớn của không gian đã cho thấy được sự cô đơn nhỏ bé của kiếp người trước sự trôi nổi của dòng đời. Phân tích bài thơ Tràng giang nói chung cũng như hai khổ thơ cuối nói riêng sẽ thấy tác phẩm là đại diện tiêu biểu cho phong cách sáng tác của Huy Cận. Một cái buồn ảo não, một nỗi sầu nhân thế ngấm xuyên vào cảnh vật và vào cả lòng người. Bởi thế mà nhà thơ Lê Duy đã từng viết “Là Tràng Giang khổ nào cũng dập dềnh sóng nước,Là tâm trạng, khổ nào cũng lặng lẽ u buồn…” Tham khảo trọn bộ 🌹 Mở Bài Tràng Giang 🌹 20 Đoạn Văn Mẫu Hay Phân Tích Bài Thơ Tràng Giang 2 Khổ Cuối Đầy Đủ – Mẫu 7 Tham khảo bài văn phân tích bài thơ Tràng giang 2 khổ cuối đầy đủ dưới đây để nắm được những đặc sắc nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ. Huy Cận là nhà thơ nổi bật của phong trào thơ mới và là một trong những cây đại thụ của thơ ca Việt Nam hiện đại. Phân tích hai khổ thơ cuối bài tràng giang ta sẽ thấy được cái đặc trưng đặc biệt của thơ Huy Cận. Ông thường được nhắc nhớ bởi hồn thơ của những nỗi sầu vạn cổ hay nhà thơ của những nỗi niềm khắc khoải không gian. Bài thơ “Tràng giang” là một trong những tác phẩm xuất sắc của Huy Cận, được in trong tập “Lửa thiêng”, tập thơ đầu tay nhưng đã thể hiện được cái “chín” trong sáng tác của ông. Bài thơ gợi mở không gian sông Hồng, đoạn bến Chèm vào mùa nước nổi. Thời điểm viết bài thơ Huy Cận đang là sinh viên của trường Cao đẳng Canh nông. Đứng trước cảnh sông nước mênh mông, ông thể hiện tâm trạng cô đơn, u sầu và sự lạc loài của số kiếp con người trước vũ trụ bao la, vô thủy, vô chung. Điều này người đọc có thể cảm nhận rõ nhất ở hai khổ cuối bài thơ. “Bèo giạt về đâu, hàng nối hàng;Mênh mông không một chuyến đò cầu gợi chút niềm thân mật,Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều quê dợn dợn vời con nước,Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.” “Tràng giang” là một từ Hán Việt mang sắc thái cổ kính, trang trọng và gợi cho ta nhớ đến dòng sông li biệt từng gặp trong thơ Lí Bạch. Bên cạnh đó, vần “ang” trong hai từ khi đọc lên như vang vọng và gợi không gian mênh mông xa vắng, cái trải dài của bãi bờ sông nước. Vì vậy, ngay từ nhan đề, Huy Cận đã mở ra một cửa ngỏ nhìn vào cái vô biên. Hai chữ “Trường giang” ngắn gọn nhưng đã khái quát và phần nào đã làm rõ tư tưởng, thông điệp của nhà thơ muốn gửi gắm trong bài thơ. “Bông khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Chỉ một câu thơ nhưng Huy Cận đã gói trọn cảm hứng chủ đạo của cả tác phẩm. Đó là nỗi bâng khuâng, lòng thương nhớ của một con người bé nhỏ trước cảnh trời rộng sông dài. Đọc toàn bài thơ, ta thấy ở khổ thứ nhất nhà thơ hướng cái nhìn cảnh về những con sóng lăn tăn mặt sông, dừng mắt trên chiếc thuyền nhỏ lẻ loi, rồi một cảnh củi khô lạc loài giữa bốn bề sông nước; ở khổ thứ hai, Huy Cận đưa mắt ra xa hơn, rộng hơn với cái nhìn toàn cảnh mênh mông. Và đến khổ thứ ba, Huy Cận lại nhìn về dòng sông, như đang đưa mắt tìm kiếm những điều thân thuộc, chút hơi ấm cho tâm hồn đang cô đơn, lạnh giá. Nhưng khi phân tích hai khổ thơ cuối bài tràng giang ta thấy thiên nhiên dường như chỉ hờ hững trước những mong mỏi ấy của nhà thơ, bởi xung quanh bốn bề chỉ là vẻ đìu hiu, quạnh quẽ “Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng,Mênh mông không một chuyến đò cầu gợi chút niềm thân mật,Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”. Thay vì những thuyền, những cành củi khô hiện lên trong cái nhìn cận cảnh dòng sông ở khổ đầu; ở khổ thứ ba này hiện lên hình ảnh không kém phần buồn bã những cánh bèo trôi dạt lênh đênh. Dòng sông vốn đã “buồn điệp điệp”, sự xuất hiện của những cánh bèo trôi nổi càng làm cho con nước thêm hiu quạnh. Những cánh bèo dạt ấy là sự nối tiếp của hình ảnh “con thuyền xuôi mái” và “củi một cành khô” xuất hiện ở khổ thơ đầu. Và cũng từ đây, từ hình ảnh cánh bèo trôi dạt, cảm giác về kiếp người phù du vô định cũng được gợi ra. Phân tích hai khổ thơ cuối bài tràng giang ta thấy, câu thơ “Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng” được ngắt nhịp 2/2/1/2. Cách ngắt nhịp này thể hiện được sự dao động của sóng nước và cũng khắc họa trạng thái dập dềnh của những cánh bèo đang rôi dạt trên sông. Còn với hai chữ “về đâu” Huy Cận muốn nói lên sự mất phương hướng, sự hoang mang và những dự cảm bất an về số phận con người trong thế giới không có sự gắn kết, sẻ chia. Giữa cuộc đời trăm ngả, bộn bề sống nhưng cô đơn, con người không biết phải đi về đâu. Huy Cận không biết phải hỏi ai nên tự hỏi mình, nhưng không tìm thấy một lời giải đáp. Đứng trước cảnh trời nước bao lao, nhà thơ mang tâm tình hướng đến sự giao cảm với con người, mong rằng sẽ bớt cô đơn, bớt quạnh hiu. Nhưng làm sao có thể thấy được an ủi, khi “Mênh mông không một chuyến đò ngang/ Không cầu gợi chút niềm thân mật. Cái vẻ trống trải cô đơn của nhà thơ được tô đậm bổ hai từ phủ định “không” liên tiếp. Thực tế cây cầu hay con đò là những cảnh vật ta vẫn thường bắt gặp ở những niềm sông nước, bởi đó là phương tiện đi lại, phương tiện liên hệ, gặp giữa của con người. Nhưng ở đây nhà thơ lại không hề thấy xuất hiện. Không có cây cầu nối hai bờ sông nước để gần gũi, không có một chuyến đò để đón đưa khách qua sông. Mọi thứ chỉ là vẻ hoang vắng, là màu vàng màu xanh của bãi bờ tiếp nối nhau “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng” “Lặng lẽ” là từ láy gợi tả vẻ im lặng của không gian, cùng với hình ảnh “bờ xanh tiếp bãi” không gian đôi bờ tràng giang càng thêm hoang vắng, tiêu điều. Đọc câu thơ, người đọc có thể cảm nhận rõ dòng chảy lững lờ của con sông qua khúc này tới quãng khác, nhưng luôn giữ cái vẻ âm thầm, vắng lặng. Dòng chảy của sông Hồng lúc này thật khác với vẻ tươi vui, xanh biếc của sông Hương chảy về thành phố Huế trong tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Như vậy, khi phân tích hai khổ thơ cuối bài tràng giang mà trước nhất ở khổ thứ ba, ta thấy hiện ra một thế giới mang vẻ hững hờ, rời rạc. Và ở thế này, con người càng thêm thấm thía nỗi cô đơn hoang vắng tột cùng. Cái cô đơn âu sầu ấy như thấm vào từng câu chữ, từng hình ảnh trong khổ thơ. Nó phản chiếu nỗi cô đơn đã trở thành một căn bệnh của con người trong xã hội ở thế kỉ XX. Căn bệnh đã xuất hiện nhiều trong văn học Phương Tây Mỗi người đứng cô đơn trên trái đấtTim xuyên qua một tia nắng mặt trờiVà chia liChiều đã tắt Kết thúc bài thơ, Huy Cận vẽ nên cảnh hoàng hôn về trên vùng sông nước. Nỗi cô đơn vẫn còn tiếp nối và trải ra cùng những con sóng, lênh đênh theo những con thuyền, theo cành củi lạc loài, theo những cánh bèo trôi nổi và cho đến cuối cùng, lại kết thụ ở đoạn thơ cuối “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều saLòng quê dợn dợn vời con nước,Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” Trong khổ thơ cuối bài “Tràng giang”, ta thấy Huy Cận chia đôi khổ thơ làm hai phần rõ rệt. Hai câu thơ trên gợi cảnh trời rộng bao la, hai câu cuối thì miêu tả cảnh sông dài. Mà song hành cùng với trời rộng, sông dài là nỗi cô đơn u sầu, là niềm nhớ, nỗi hoài hương da diết của thi nhân, đặc biệt là vào lúc hoàng hôn đang buông khép lại một ngày. Hai khổ thơ cuối bài tràng giang ta thấy Huy Cận thật tài hoa khi vẽ nên một nét chấm phá đậm dấu ấn Đường thi, phác họa cảnh hoàng hôn vùng sông nước “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa Những lớp mây nối tiếp nhau, đùn dồn tụ, ngưng kết thành những dãy núi trùng điệp. Còn hoàng hôn như dát bạc lên những dãy núi, khiến chúng lấp lánh sáng ngời. Đọc câu thơ ta có thể hình dung ra khung cảnh thiên nhiên ấy thật kì vĩ, tráng lệ làm sao và gợi nhắc đến câu thơ Đường “Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳmMặt đất mây đùn cửa ải xa”. Giữa vùng trời mênh mông, người thi sĩ vẽ thêm một cánh chinh đơn côi, bé bỏng. Cánh chim nhở như đang chở nặng bóng chiều tà đi về phía ánh dương rồi mất hút. Ta không khỏi cảm thấy cánh chim ấy cũng đang mang nỗi sầu vũ trụ, mà nỗi sầu ấy nặng quá, chúng phải nghiêng đôi cánh nhỏ. Chính sự kết hợp giữa các hình ảnh mây đùn đùn, trời mênh mông và cánh chim bé nhỏ đang mang đến dư vị cổ điển cho tác phẩm của Huy Cận. Qua đó, độc giả cũng thấy rõ niềm khắc khoải không gian của Huy Cận. Một mình đứng trước vũ trụ bao la, đối diện với nỗi cô đơn, nhà thơ càng thấm thía cái vô tận, vĩnh hàng của không gian, thời gian và đồng thời là cái ngắn ngủi, hữu hạn của đời người. Ở hai câu thơ cuối, nỗi cô đơn u hoài của Huy Cận còn tăng gấp bội khi ông dõi theo những con sóng đang gợn trôi trên dòng sông Lòng quê dợn dợn vời con nước,Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Lúc này điểm nhìn của nhà thơ đã dịch chuyển từ cao xuống thấp, từ trời mây núi, cánh chim giữa không trung rồi dừng lại trước mặt nước dập dềnh sóng. Từ láy “dờn dợn” mang tính gợi hình, vẽ ra những con sóng đang nhấp nhô trên mặt nước và khiến người nhìn rợn ngợp bởi những lớp sóng cứ dồn gối lên nhau. Còn nhịp 4/3 của dòng thơ lại gợi trạng thái gặp gỡ của những con sóng. Huy Cận đứng và phóng tầm mắt dõi theo những con sóng cứ dập dềnh triền miên, nỗi hoài nhớ quê hương cuối cùng đã dâng lên, Trong thơ cổ điển,hình ảnh khói sóng trên sông đã trở thành nguyên cớ, thành cái dễ gợi nhắc nỗi niềm hoài hương của người thi sĩ. Còn ở đây, Huy Cận đã không còn bị tác động bởi yếu tố ngoại cảnh, là khói hoàng hôn để nói về nỗi niềm da diết nhớ quê hương. Như vậy, hai khổ thơ cuối bài tràng giang ta thấy, Huy Cận đã không lặp lại người xưa ở cái nguyên cớ nhớ quê nhưng vẫn khiến người đọc thấy bâng khuâng, nao nao thương nhớ. Nhưng hơn hết, nỗi lòng đối với quê hương không chỉ là nỗi nhớ nhà mà sâu sắc hơn, là nỗi buồn. Nỗi buồn của cả một thế hệ, một lớp người bởi cảnh nước mất nhà tan. Vì vậy, đằng sau nỗi nhớ quê nhà da diết ấy còn ẩn chứa tình yêu đất nước tầm kín mà sâu sắc của Huy Cận. Có thể nói, hai khổ thơ cuối bài “Tràng giang” là nơi hội tụ những đặc sắc nghệ thuật, nội dung sâu sắc của cả bài thơ. Ở đây ta thấy được phong vị cổ điển kết hợp hài hòa với tinh thần sáng tác hiện đại, và sự hài hòa giữa cảm xúc cá nhân và suy tư thời đại. Chính những sự cộng hưởng này đã khiến tâm trạng, cảm xúc, nỗi u sầu cô đơn và nỗi hoài vọng quê hương của Huy Cận càng thêm da diết, triền miên. Có thể bạn sẽ thích 🌼 Kết Bài Tràng Giang 🌼 20 Đoạn Văn Mẫu Hay Nhất Phân Tích 2 Khổ Thơ Cuối Bài Tràng Giang Nâng Cao – Mẫu 8 Đón đọc bài văn phân tích 2 khổ thơ cuối bài Tràng giang nâng cao dưới đây với những nội dung nghị luận văn học đặc sắc. Nhắc đến Huy Cận là nhắc đến hồn thơ u sầu, trong thơ ông luôn chất chứa những nỗi niềm của một kẻ sĩ vương nỗi sầu nhân thế. Một trong những bài thơ tiêu biểu cho phong cách ấy của ông là “Tràng giang”, tác phẩm được viết vào mùa thu năm 1939. Hai khổ thơ cuối bài “Tràng giang” là những khổ hay nhất bài thơ, diễn tả nỗi buồn lữ thứ trước cảnh hoàng hôn rợn ngợp của thi nhân. “Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;” Không còn là không gian rộng lớn, hùng vĩ, mở ra với nhiều chiều kích như khổ thơ trước, với khổ thơ thứ ba, tác giả đưa tầm mắt về hình ảnh bèo dạt trên sông nước. Những cách bèo nổi trôi vô định, không biết đi đâu về đâu. Cánh bèo nhỏ bé giữa dòng mênh mang phải chẳng là tượng trưng cho những kiếp người nhỏ bé, bơ vơ, bất lực giữa dòng đời? Đọc câu thơ, ta như cảm nhận được sự bất lực, nỗi bế tắc của thi nhân. Những cánh bèo hàng nối hàng trôi dạt hay là những kiếp người “hàng nối hàng” đang lạc lõng trước cuộc đời. Họ không biết rồi sẽ đi về đâu, cánh bèo mặc dòng nước cuốn trôi như chính cuộc đời họ đang mặc dòng đời xô đẩy. “Mênh mông không một chuyến đò cầu gợi chút niềm thân mật,Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.” Điệp từ “không” được sử dụng đầy tinh tế đã vẽ ra một không gian vắng lặng, hoang hoải. Dòng sông mênh mông sóng nước, rộng lớn là vậy mà chẳng có lấy một chuyến đò, một bóng hình của ai đó, cũng chẳng có lấy một cây cầu bắc ngang cho dòng người qua lại. Tất cả đều chênh vênh, người và sông như hai thế giới cùng một nỗi niềm tâm sự, khát khao tìm kẻ tâm giao mà chẳng có, càng hi vọng lại càng xa xôi. Thiên nhiên đẹp mà vắng bóng con người, mở ra một miền vắng lặng, lẻ loi. Nỗi cô đơn tự nhiên ngự trị khắp không gian, xâm chiếm lấy tâm hồn thi nhân. “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng” Trong cái nền của không gian không thanh âm ấy, những gam màu len lỏi xuất hiện “bờ xanh” tiếp “bãi vàng”, nhưng dẫu có màu xanh tươi mát hay sắc vàng ấm áp của bến bờ, cồn bãi thì cũng không khiến cho bức tranh thiên nhiên tươi mới hơn mà trái lại càng tô đậm thêm vẻ u tịch của một miền hoang hoải. Bất chợt ta tự hỏi do cảnh buồn hay lòng thi nhân đang sầu nỗi sầu nhân thế mà lời thơ, tứ thơ chất chứa những mệt nhoài? Bởi “Cảnh nào cảnh chẳng đeoNgười buồn cảnh có vui đâu bao giờ”Nguyễn Du Đưa tầm mắt lên, hướng về phía bầu trời cao rộng “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.” Những hình ảnh cổ điển “mây”, “cánh chim” được tác giả sử dụng kết hợp với các động từ “đùn”, “nghiêng”, “sa” đã diễn tả được cái hùng vĩ và sức sống tràn đầy của thiên nhiên. Những tầng mây “lớp lớp” chất chồng lên nhau tạo nên những dãy núi bạc khổng lồ, lơ lửng trên nền trời xanh ngắt. Một cảnh tượng thật hùng vĩ biết bao! Thiên nhiên lúc này không còn trong trạng thái tĩnh mịch nữa mà nét động dần thay thế. Mây đùn núi bạc trong ánh chiều, chim nghiêng cánh nhỏ mơ màng trong bóng hoàng hôn, tất cả tạo nên một không gian đẹp đẽ, rực rỡ và sống động. Tuy nhiên, trong khung cảnh ấy, ta vẫn thấy nét buồn, cô đơn của tâm hồn thi nhân khi bắt gặp hình ảnh “chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”. Cánh chim nhỏ bé, mỏng manh bay giữa mây cao, núi bạc, cô đơn giữa đất trời mênh mông, hùng vĩ tựa như hình ảnh thi nhân đang bơ vơ, chán ngán giữa dòng đời. Bởi thế mà nỗi buồn cứ thế trào dâng, miên man bất tận, thấm đượm trong cảnh, chất chứa trong tình. Có thể nói, tình quê là một tình cảm đáng trân trọng của các thi nhân dành cho quê hương, đất nước. Thôi Hiệu từng nhìn khói sóng trên sông mà nhớ nhà “Nhật mộ hương quan hà xứ thịYên ba giang thượng sử nhân sầu.” Hay Lí Bạch từng nhìn trăng mà nhớ quê hương da diết “Cử đầu vọng minh nguyệtĐê đầu tư cố hương.” Người ta xa quê thì nhớ quê, nhưng với Huy Cận thì khác, tác giả đang đứng trên quê hương mà lại nhớ quê hương da diết “Lòng quê dợn dợn vời con nước,Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.” Từ láy “dợn dợn” gợi tả nét chuyển động diễn ra liên tục trong tâm khảm nhà thơ, một nỗi nhớ luôn thường trực khôn nguôi, đầy sâu sắc và ám ảnh. Dường như, không giây phút nào là thi nhân không nhớ đến quê hương, đất nước mình, đặc biệt là trong cảnh tổ quốc đang bị xâm lăng, giày xéo bởi quân thù. Có thể nói, hai khổ cuối bài thơ đã vẽ nên một bức tranh đẹp nhưng buồn sầu. Ẩn sâu trong từng con chữ là cái tôi thi sĩ cô đơn song lại chất chứa tình cảm sâu nặng, tha thiết với quê hương, đất nước. Khám phá thêm 💕 Phân Tích Khổ 1 Tràng Giang 💕 Những Bài Phân Tích Hay Phân Tích 2 Khổ Cuối Tràng Giang Học Sinh Giỏi – Mẫu 9 Tham khảo bài văn phân tích 2 khổ cuối Tràng giang học sinh giỏi dưới đây để trau dồi cho mình những ý văn hay và đặc sắc. Nhận xét về Thơ Mới, trong tuyển tập Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh viết “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy cận. Cả trời thực, trời mộng vẫn neo neo theo hồn ta”. Nỗi buồn đó thể hiện sự sầu muộn với những nỗi sầu nhân thế, tâm sự thầm kín, tình yêu quê hương, đất nước của Huy Cận thể hiện rõ qua hai khổ thơ cuối của bài thơ Tràng Giang Bèo dạt về đâu, hàng nối hàngMênh mông không một chuyến đò cầu gợi chút niềm thân mật,Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều quê dợn dợn vời con nước,Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Khổ thơ thứ ba hiện lên trước mắt người đọc một khung cảnh hắt hiu, dường như thiên nhiên nơi đây không giống với sự trông ngóng của mọi người Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;Mênh mông không một chuyến đò cầu gợi chút niềm thân mật,Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Từng cụm bèo lững lờ trôi vô định trên sông không biết đời mình rồi sẽ đi đâu về đâu, bỗng tới đây ta lại nhớ đến câu ca dao Thân em như thể bèo trôiSóng dập, gió dồi biết tựa vào đâu?Thân em như thể trái chanhLắt lẻo trên cành nhiều kẻ ước ao. Hay là hình ảnh cánh bèo lẻ loi, đơn độc, lênh đênh trên mặt nước gợi đến thân phận “cánh bèo mặt nước” Nguyễn Du khiến ta liên tưởng đến sự tan tác, chia lìa, phiêu bạt “Phận bèo bao quản nước saLênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh”Nguyễn Du Như vậy, ta có thể thấy được bối cảnh không gian mênh mông sông nước giữa trời bể bao la vào độ chiều tà. Ngắm nhìn những đám bèo trôi lênh đênh vô định, không có phương hướng khiến cho cả thi nhân lẫn người đọc cảm thấy nôn nao, man mác buồn – một nỗi buồn không biết tỏ bày cùng ai, chỉ khi sống trong thơ, chìm đắm trong thế giới ngôn từ mới có thể thốt lên được. Điệp từ “không” nhấn mạnh cho sự vắng vẻ ở nơi đây. Trong câu thơ từ láy “mênh mông” gợi lên sự sầu muộn bao la rộng lớn trước cảnh sông khi chiều tà nhưng không có một con đò nhỏ để qua sông, không hề xuất hiện cảnh “bến My Lăng nằm không thuyền đợi khách” hay bóng dáng nghiêng nghiêng cầu tre “cầu bao nhiêu nhịp thương mình bấy nhiêu”, tất cả đều “lặng lẽ”, chỉ có thiên nhiên “bờ xanh” nối tiếp thiên nhiên bãi vàng. Hai câu cuối của khổ thơ là bức tranh thiên nhiên càng sầu bi hơn được vẽ lên dường như đối lập giữa hai bên bờ sông. Nó giống như là hai thế giới không có bất kỳ liên hệ nào với nhau. Dẫu ở gần mà cũng thành xa xôi không thể với tới giống câu nói “gần ngay trước mắt xa tận chân trời”. Hai bên bờ chạy song song với nhau, cùng“lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”, không một hề có chút thân mật hay giao hòa nào cả. Khung cảnh thiên nhiên lúc bấy giờ giống như chính tâm trạng của thi nhân vậy. Với nghệ thuật đối lập giữa không gian rộng lớn và con người bé nhỏ, không gian càng mênh mông bao nhiêu thì con người càng cảm thấy cô đơn bé nhỏ, lạc lõng giữa dòng đời bấy nhiêu. Nỗi cô đơn cứ thế xếp chồng lên cao, làm cho con người ta càng cảm thấy nhỏ bé giữa thiên nhiên, càng khao khát hơn sự đồng cảm, yêu thương. Từ đây ta có thể cảm nhận được cảm giác bất lực của con người không thể tìm được một người bạn tâm giao, một tri âm tri kỷ của đời mình. Như vậy, “Huy Cận lượm lặt những chút buồn rơi rác để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não. Người đời sẽ ngạc nhiên vì không ngờ với một ít cát bụi tầm thường thì người lại có thể đúc thành bao châu ngọc. Ai có ngờ những bước chân đã tan trên đường kia còn ghi lại trong văn thơ những dấu tích không bao giờ tan được…”. Quay trở lại với câu thơ cuối cùng của khổ thơ “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”. Một gam màu lạnh được vẽ nên cùng sự yên lặng khiến cho cảnh càng thêm hiu quạnh, u hoài nay càng thêm ảm đạm hơn… Suy cho cùng, đó là cánh bèo đang lờ lững trôi hay là chính con người đang lạc lõng giữa sự mênh mông của trời đất, của sự ra rời cuộc đời? Là một nhà thơ mới Huy Cận dường như phong cách sáng tác của ông nghiêng khá nhiều về dòng thơ lãng mạn Pháp. Điều này thể hiện khá rõ nét qua khổ thơ cuối của bài thơ. Nội dung của khổ thơ này là miêu tả về tâm trạng của nhân vật trữ tình vào khoảnh khắc hoàng hôn. Nhắc đến hoàng hôn trong thơ cổ là nhắc đến sự gắn liền với tình quê, cố hương, là nỗi nhớ quê hương da diết. Ví dụ như Bà huyện Thanh Quan cũng đã sử dụng hình ảnh hoàng hôn để bày tỏ nỗi nhớ quê hương của mình qua bài thơ “Qua đèo ngang” “Dừng chân đứng lại trời non nướcMột mảnh tình riêng ta với ta”.Bà huyện Thanh Quan Hay ở một diễn biến khác, khi đứng ở trên lầu Hoàng Hạc nhìn thấy khói sóng phủ mờ trên dòng sông buổi hoàng hôn mà lòng Thôi Hiệu – nhà thơ lỗi lạc đời Đường phải thổn thức mà thốt nên rằng “Quê hương khuất bóng hoàng hôn,Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?”Lầu Hoàng Hạc – Thôi Hiệu Huy Cận đã lựa chọn thi liệu đầy chất thơ để vẽ lên một tình quê vơi đầy đó là cánh chim chiều hay là lớp lớp núi mây bạc. Dẫu không có khói sóng phủ mờ giống như Thôi Hiệu, không có tiếng chim kêu quốc quốc, “thương nhà mỏi miệng cái gia gia”Qua đèo ngang mà vẫn thương nhớ quê nhà da diết thông qua những câu thơ cuối Lớp lớp mây cao đùn núi bạcChim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều saLòng quê dợn dợn vời con nước,Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Câu thơ đầy hình tượng và giàu cảm xúc khiến cho ta cảm thấy dường như một bức tranh đang được vẽ nên trước mắt ta. Hồn thơ mang tính chất của thơ Đường như thấm vào từng câu từng chữ. Ai đã từng xa quê, trong khoảnh khắc chiều tà, lúc hoàng hôn buông xuống mới thấy hết cái đẹp nhưng buồn nằm trong những bài thơ nói về tình quê, lòng quê. Đến đây, ngược dòng lịch sử quay trở lại với Truyện Kiều, Nguyễn Du đưa ta phiêu vào cảm xúc của Thúy Kiều khi “Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng” Hay “Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn ôn”Chiều hôm nhớ nhà – Bà huyện Thanh Quan. Như vậy, hoàng hôn trong bất cứ bài thơ nào cũng đều man mác đượm buồn và gắn liền với nỗi nhớ quê nhà da diết. Đến đây, Huy Cận cũng là “một người của đời, một người ở giữa loài người”, một thi sĩ trong phong trào thơ mới như đưa ta bâng khuâng, du nhập hồn mình vào cùng “Tràng giang”, cùng ông lặng lẽ trầm ngâm nhìn theo “vời con nước” để rồi hiện lên nỗi “nhớ nhà”, nhớ quê hương. Tình yêu quê hương trong người thi nhân cháy bỏng và vô cùng da diết. Huy Cận giống như B. Shelly từng nói “thi sĩ là một con chim sơn ca ngồi trong bóng tối hát lên những tiếng êm dịu để làm vui cho sự cô độc của chính mình.” Thơ Huy Cận buồn, nhưng nó như nâng dậy tâm hồn người đọc, nó khơi dậy những gì đẹp đẽ nhất, những gì tiềm ẩn nơi đáy sâu tâm hồn con người để vươn lên tới những cái cao cả hơn. Đọc “Tràng giang” ta cảm nhận sâu hơn về chân lý ấy. Khổ thơ cuối là ở sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa thơ ca truyền thống và thơ ca hiện đại là sự kết hợp những nét cổ điển trong thơ Đường với cái tôi cá nhân xuất hiện trong phong trào thơ mới. Với việc sử dụng nhuần nhuyễn những từ láy và những câu đảo ngữ, Huy Cận đã thành công trong việc miêu tả cảm xúc vũ trụ. Điều này thể hiện qua vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, sự thơ mộng nhưng không quên thấm đượm nỗi buồn tâm trạng của người thi sĩ. Đó chính là “nỗi buồn sông núi, nỗi buồn về đất nước” Huy Cận. Nỗi buồn đó được khơi nguồn từ con tim ra ngoại cảnh, rồi từ ngoại cảnh trở về tim, lặng lẽ mà sâu nặng, yên tĩnh mà mãnh liệt vô cùng “Một chiếc linh hồn nhỏMang mang thiên cổ sầu”Ê chề – Huy Cận Câu đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Cảm hứng của lời đề từ này dường như dàn trải trong ba khổ thơ đầu, để rồi cuối cùng lại hội tụ và kết tinh vào trong khổ thơ cuối – khổ thơ có thể được xem là một bài thơ tứ tuyệt hay, bộc lộ chân thực và sâu đậm nhất về tình yêu quê hương của người thi sĩ. Thể thơ thất ngôn trong Tràng giang mang vẻ đẹp của sự cổ kính và trang trọng. Âm điệu đoạn thơ trầm bổng, lúc cao lúc thấp như muôn ngàn sóng điệp điệp gợn buồn trong lòng bạn đọc bấy lâu nay. Cảnh sắc và vẻ đẹp của hoàng hôn đưa ta phiêu vào nỗi nhớ quê hương da diết, mang theo những cung bậc cảm xúc của tâm hồn ta… “Tràng giang” được xem là một trong những bài thơ hay nhất của nhà thơ Huy Cận trong tập “Lửa thiêng”. Đọc Tràng Giang, ta càng hiểu hơn cái tôi “ngẩn ngơ buồn” của tác giả. Thông qua đó ta cũng hiểu được thơ là cây đàn đồng điệu của tâm hồn, là nhịp thở con tim, là diễn tả rất thành công mọi cung bậc cảm xúc của con người, cảnh vật dù chỉ qua vài ý thơ ngắn ngủi. Nghệ thuật ngôn từ trong thơ Huy Cận được nâng lên một tầng cao mới như Xuân Diệu nhận xét “Dường như ở đây nhà thơ đã toát ra một mảng hương sắc sâu xa, cao đẹp nhất của tâm hồn mình”. Mời bạn tham khảo 🌠 Phân Tích Khổ 2 Tràng Giang 🌠 14 Bài Văn Mẫu Hay Nhất Văn Mẫu Phân Tích Tràng Giang Khổ 3 4 Đơn Giản – Mẫu 10 Tham khảo bài văn mẫu phân tích Tràng giang khổ 3 4 đơn giản dưới đây với những ý văn ngắn gọn và súc tích. Độc giả biết đến hồn thơ của Huy Cận trước cách mạng là một hồn thơ sầu, buồn trước nỗi sầu nhân thế. Đến với bài thơ “Tràng giang”, ta lại bắt gặp một nỗi buồn, cô đơn sâu sắc của tác giả trước cuộc đời. Đặc biệt, nỗi sầu buồn ấy được làm nổi bật trong hai khổ thơ cuối của bài thơ. Khổ thơ thứ 3 đã gợi ra hình ảnh một kiếp người nhỏ bé, vô định, chênh vênh trước dòng đời mang nét cổ kính “Bèo dạt về đâu hàng nối hàngMênh mông không một chuyến đò ngangKhông cầu gợi chút niềm thân mậtLặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng” Hình ảnh “bèo dạt” như gợi bão tố của cuộc đời đang xô đẩy số phận một con người nhỏ bé như hình ảnh bèo cô độc, bị xô đẩy. Con người như cùng bơ vơ trước cuộc đời. Điệp từ “không” nhấn mạnh sự trống vắng, thiếu hụt, mất mát. Nó góp phần phủ định hiệu quả. Dòng sông là bức tường ngăn cách, phương tiện đi qua nó là “đò”, “cầu”, là cái khiến con người xóa bớt sự cô đơn. Nhưng ở đầy, đã có sự phủ định tuyệt đối “không cầu”, “không đò”, đó lại là sự khẳng định không có bất kì tín hiệu, mối liên hệ nào để con người gần gũi nhau, giá trị sống của con người đang bị hoàn toàn tiêu diệt. Nếu bị tước đoạt những thứ giúp con người đến với nhau thì không cuộc sống không có giá trị. Phương tiện giúp con người xóa đi sự xa cách mà ở hoàn cảnh này lại hoàn toàn không có. Sự sống của con người dường như bị tiêu diệt, vì sống giữa cuộc đời mà không có sự liên hệ, cảm thông hay chia sẻ. Hình ảnh “bờ xanh’, “bãi vàng” là hai sự vật vốn dĩ đứng cạnh nhau mà lại không có một mối liên hệ ràng buộc nào. “Lặng lẽ” chỉ hoạt động âm thầm, kín đáo, riêng lẻ. Tác giả đã gợi ra bức tranh cảnh vật hoang vắng, thiếu hơi ấm tình người. Khổ thơ thứ 4 gợi ra cả một bầu tâm sự của tác giả “Lớp lớp mây cao đùn núi bạcChim nghiêng cánh nhỏ, bóng chiều saLòng quê dợn dợn vờn con nướcKhông khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” Hình ảnh “mây cao”, “núi bạc” mang hình ảnh kì vĩ, mang tầm vóc lớn. Nhà thơ đã lựa chọn sử dụng những hình ảnh lớn lao, kì vĩ, mượn từ “đùn” của nhà thơ Đường, đó là sự chuyển động từ bên trong đẩy ra bên ngoài từng lớp mây trắng cứ bung nở, tỏa ra thành một núi bạc. “Lớp lớp” là nhiều, chồng lên nhau, không có điểm kết thúc. Hình ảnh mây trắng hết lớp này đến lớp khác như một cây bút bông nở lên trên trời cao. Mây trông như những ngọn núi bạc, mây là núi, núi tựa mây. Hình ảnh “cánh chim” là một công thức ước lệ trong thơ cổ, lấy cánh chim để gọi buổi chiều, nói hộ tâm trạng con người. Hình ảnh “cánh chim” gợi sự sống cho cảnh vật, những cánh chim nhỏ lại nghiêng đi, không chịu được sức nặng của bóng chiều đang xa xuống, tạo sự đối lập giữa cảnh bầu trời cao rộng hùng vĩ ở câu trên và cánh chim nhỏ bé ở câu dưới. Câu thơ cuối cùng “không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” chính là tâm sự nhớ quê hương mà tác giả gửi gắm. Cách thể hiện nỗi nhớ nhà không cần có yếu tố gợi nhớ mà vẫn nhớ vì nỗi nhớ luôn thường trực ở trong tâm hồn thi sĩ. Huy Cận đứng trước dòng sông của đất nước, thể hiện tâm sự của nhà thơ đối với đất nước. Người đọc nhận ra được sự cô độc của tác giả do mất quê hương, đây là một tâm trạng thầm kín, thể hiện tình yêu nước của nhà thơ. “Tràng giang” là một bức tranh thiên nhiên đẹp nhưng buồn, đặc biệt hai khổ thơ cuối thể hiện tình yêu quê hương, đất nước của nhà thơ. Tình yêu ấy mang tâm sự thầm kín của tác giả. Trong đó còn có sự kết hợp giữa hiện đại và cổ điển, xứng đáng là bài thơ hay nhất của tập “Lửa thiêng”. Chia sẻ thêm cùng bạn 🍀 Phân Tích Khổ 3 Tràng Giang 🍀 15 Bài Văn Hay Nhất Phân Tích Bài Tràng Giang 2 Khổ Cuối Ngắn Hay – Mẫu 11 Tham khảo dưới đây bài văn mẫu phân tích bài Tràng giang 2 khổ cuối ngắn hay sẽ mang đến cho các em học sinh những ý văn sinh động và giàu hình ảnh. Huy Cận là gương mặt nhà thơ tiêu biểu trong phong trào Thơ mới của Việt Nam. Trước cách mạng tháng Tám, thơ ông chất chứa một nỗi buồn man mác, đó là nỗi buồn của người trí thức luôn đau đáu một nỗi niềm trước thời thế loạn lạc. “Tràng giang” được coi là bài thơ tiêu biểu nhất cho tài năng và phong cách sáng tác ấy. Đặc biệt, trong 2 khổ thơ cuối của bài, nhà thơ đã tái hiện đầy khắc khoải nỗi buồn thương, sầu não của một con người đang cảm thấy lạc lõng, cô độc giữa cuộc đời rộng lớn. Nếu như những khổ thơ đầu, nhà thơ Huy Cận tập trung miêu tả khung cảnh sông nước, mây trời rộng lớn, rợn ngợp thì ở hai khổ thơ cuối, nhà thơ đã trực tiếp bộc lộ tâm trạng phiền não và những suy nghĩ sâu sắc về cuộc đời, về kiếp người Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;Mênh mông không một chuyến đò cầu gợi chút niềm thân mật,Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Hình ảnh “bèo dạt” không chỉ mang ý nghĩa tả thực về cảnh vật mà nhà thơ bắt gặp trên sông mà còn gợi ra sự nhỏ bé, trôi nổi lênh đênh của những kiếp người giữa cuộc đời rộng lớn. Sông nước mênh mông, rộng lớn nhưng buồn vắng đến cùng cực “Mênh mông không một chuyến đò ngang”, dù cố gắng tìm kiếm nhưng nhà thơ không tìm thấy dù một “chút niềm thân mật”. Câu thơ “Không cầu gợi chút niềm thân mật” tựa như một tiếng thở dài đầy bất lực của nhà thơ khi chẳng thể tìm kiếm được một chút hơi ấm của con người, của sự sống. Điệp từ “không” đã cực tả sự vắng lặng của không gian, nó phủ định tất cả những gì gắn kết giữa con người và thiên nhiên sông nước, không có con đò, không cầu, không chút niềm thân mật. Tất cả mở ra trước mắt của nhà thơ chỉ có sự rộng lớn, hoang vắng đến rợn ngợp. Từ láy “lặng lẽ” cực tả sự vắng lặng đồng thời cũng gợi ra sự tồn tại nhạt nhòa, không mang đến ấn tượng sâu đậm của “bờ xanh”, “bãi vàng”. Sự xuất hiện của bờ, bãi hai bên sông cùng những hình ảnh gợi liên tưởng đến sự sống xanh, vàng vẫn không đủ để làm cho bức tranh sông nước bớt đi phần hiu quạnh, trống vắng bởi bờ xanh, bãi vàng chỉ là những cảnh vật vô tri, nó không “chút thân mật”, giao hòa gì với nhau. Và cũng bởi lẽ, khi con người mang nỗi sầu muộn thì cảnh vật cũng trở nên ảm đạm, đìu hiu hơn giống như nhà thơ Nguyễn Du từng nói “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầuNgười buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Giữa trời đất rộng lớn, mênh mông nhưng nhà thơ Huy Cận lại không tìm được một tiếng nói đồng cảm, tri âm, không có một ai có thể thấu hiểu được tâm trạng và những nỗi buồn đang giăng kín trong tâm hồn nhà thơ. Nỗi phiền muộn, u sầu không thể giãi bày, chỉ có thể tự mình giữ lấy nên nó càng nhức nhối, khắc khoải. Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều quê dợn dợn vời con nước,Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Không thể tìm thấy một chút giao cảm từ khung cảnh sông nước, nhà thơ Huy Cận hướng sự chú ý của mình đến không gian rộng lớn, khoáng đạt của hoàng hôn. Từ láy “lớp lớp” gợi liên tưởng đến rất nhiều sự vật chất chồng lên nhau. “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc” mở ra khung cảnh huy hoàng, tráng lệ với những đám mây bàng đan xen, xếp chồng lên nhau. Động từ “đùn” gợi ra sự tiếp diễn, dâng lên ngày càng mạnh mẽ. Chúng ta cũng từng bắt gặp trong thơ Nguyễn Trãi “Rồi hóng mát thuở ngày trườngHòe lục đùn đùn tán rợp giương” Câu thơ “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc ” thật đẹp nhưng cũng thật buồn bởi nó càng tô đậm thêm sự trống trải, hoang vắng. Hình ảnh những đám mây lớp lớp còn gợi ra những cảm xúc bộn bề cứ khoắc khoải, xếp chồng lên nhau. Sự xuất hiện của hình ảnh cánh chim trong “bóng chiều xa” càng tô đậm nỗi trống vắng, cô đơn trong tâm hồn của nhà thơ. Giữa khung cảnh hùng vĩ, huy hoàng của những đám mây bàng bạc, cánh chim càng trở nên nhỏ bé, nó cũng giống với tâm trạng cô đơn, lạc lõng của nhà thơ giữa cuộc đời rộng lớn. “Lòng quê dợn dợn vời con nước,Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” Từ láy “dợn dợn” là sáng tạo đặc biệt của nhà thơ Huy Cận, khi được hô ứng với “vời con nước” đã khắc họa sống động nỗi niềm bâng khuâng, cô quạnh của một con người đang nhớ về quê hương. Khói hoàng hôn trong thơ ca cổ điển thường là dấu hiệu gợi nhắc con người ta nhớ về quê hương, trong thơ Thôi Hiệu có viết “Nhật mộ hương quan hà xứ thị/Yên ba giang thượng sử nhân sầu”. Thế nhưng, nếu những thi nhân xưa nhìn khói trên sông nhớ về quê nhà thì nỗi nhớ của Huy Cận da diết, khắc khoải hơn, nhà thơ không nhìn khói hoàng hôn vẫn nhớ nhà. Có lẽ rằng nỗi nhớ luôn thường trực trong lòng nhà thơ nên dù không có “chất xúc tác”, nhà thơ vẫn khôn nguôi một tấm lòng quê. Hai khổ thơ cuối của bài thơ Tràng giang không chỉ mở ra trước mắt chúng ta khung cảnh sông nước mênh mông, rợn ngợp mà còn bộc lộ nỗi lòng sầu muộn của người thi nhân. Hai khổ thơ gieo vào lòng người đọc một nỗi buồn man mác, thế nhưng nỗi buồn ấy cũng thật đẹp bởi đó đều là những cảm xúc quen thuộc, có phần mơ hồ mà chúng ta vẫn thường trải qua, thế nhưng qua ngòi bút của Huy Cận nó lại thật thơ, thật da diết. Như nhà phê bình Hoài Thanh cũng từng nhận định “Huy Cận lượm lặt những chút buồn rơi rác để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não. Người đời sẽ ngạc nhiên vì không ngờ với một ít cát bụi tầm thường thì người lại có thể đúc thành bao châu ngọc”. Gợi ý cho bạn 🌳 Phân Tích Khổ 4 Tràng Giang 🌳 14 Bài Văn Mẫu Hay Nhất Phân Tích Hai Khổ Cuối Bài Tràng Giang Lớp 11 – Mẫu 12 Bài văn mẫu phân tích hai khổ cuối bài Tràng giang lớp 11 dưới đây sẽ là tư liệu tham khảo hỗ trợ các em học sinh trong quá trình làm bài. Khác với hồn thơ sôi nổi, nhiệt huyết gắn với công cuộc đổi mới sau cách mạng tháng 8. Thơ Huy Cận những năm trước cách mạng lại mang nét u sầu, buồn bã trước thời cuộc. Chẳng thế mà “Tràng giang” ra đời lại khắc họa nét cô đơn của cá thể trước không gian bao la của thiên nhiên. Cùng với nét u buồn khắc khoải trước không gian mênh mông, bài thơ còn là nỗi nhớ quê hương, thương đất nước đang chìm trong tang thương của thi sĩ qua hai khổ thơ cuối của bài. Bài thơ được sáng tác vào năm 1939 in lần đầu tiên trên báo “Ngày nay” sau đó in trong tập “Lửa thiêng” – tập thơ đầu tay của Huy Cận. Cũng chính tập thơ này đã đưa ông trở thành gương mặt tiêu biểu của phong trào “Thơ mới” thời kì đầu. Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;Mênh mông không một chuyến đò cầu gợi chút niềm thân mật,Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Hình ảnh trong khổ thơ thứ ba đã bước đầu có chuyển động với động từ “dạt”, nhưng sự vật đi kèm với động từ này là “bèo”. “Bèo” vốn là hình ảnh tượng trưng cho sự bấp bênh, chìm nổi, không có nơi ở ổn định. Đã thế cụm từ “hàng nối hàng” càng diễn tả sự vô định, chông chênh khi hàng này đến hàng khác “nối đuôi” nhau. Không gian đối lập với thực tại của cảnh vật. Tác giả mong ngóng có thể nhìn thấy chuyến đò để cảm nhận được sự sống. Nhưng đáp lại sự mong chờ ấy là “không một chuyến đò ngang”. Ở khổ thơ này, thi sĩ sử dụng nhiều từ phủ định “không đò” và giờ tiếp đến là “không cầu”. Hình ảnh chiếc cầu gợi lên dáng vẻ miền quê, mang nỗi niềm “thân mật”. Nhưng vì hình ảnh này không có nên thành ra cảm giác xa lạ, cô đơn được cảm nhận rõ. Với câu thơ cuối của khổ tác giả sử dụng nhiều màu sắc để chấm phá cho bức tranh. “Bờ xanh tiếp bãi vàng” – sắc tranh tươi sáng, nổi bật nhưng đi kèm với từ láy “lặng lẽ” làm chìm màu sắc này xuống. Giờ đây hai hình ảnh này không còn được tươi tắn như màu sắc ban đầu của nó. Từ láy này cũng làm cho không khí đìu hiu “lây lan” từ vật này sang vật khác. Tất cả sự vật đều nhấn chìm trong cô độc. Nếu khổ thơ thứ 3 là bức tranh thiên nhiên buồn, vắng lặng thì khổ thơ cuối cùng chính là tâm tư, tấm lòng của thi sĩ Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều quê dợn dợn vời con nước,Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Xuyên suốt bài thơ tác giả liên tục sử dụng thủ pháp nghệ thuật là từ láy. “Lớp lớp” – chồng chất lên nhau, “đùn” là đè lên làm cho một vật gì đó hạ thấp xuống. Như vậy, với câu thơ đầu khổ bốn tác giả lại vẽ tiếp bức tranh quê hương với hình ảnh rộng lớn nhiều lớp mây đè lên núi bạc. Hình ảnh “chim nghiêng cánh nhỏ” gợi cảm giác nhỏ bé, bơ vơ. “Nghiêng” – không vững vàng. Hình ảnh này đối lập với vế ở sau “bóng chiều sa”. Trên nền bóng chiều rộng lớn là hình ảnh cánh chim nhỏ lo âu, còn đang mơ hồ cho con đường tìm nơi trú của mình. Hình ảnh cánh chim này đã từng bắt gặp trong “Quyện điểu quy lân tầm túc thụ” Mộ – Hồ Chí Minh, tạm dịch “Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ”. Đến với câu thơ thứ ba tác giả đã nói lên nỗi lòng nhớ quê của mình. “Dợn dợn” là gợi lên, dấy lên, có nỗi niềm khó nói. Cứ mỗi khi nhìn thấy “con nước” là lòng yêu quê hương của tác giả lại dâng lên. Tuy nhiên, nét đặc sắc lại nằm ở câu thơ cuối cùng “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Hơn nghìn năm trước Thôi Hiệu cũng từng chạnh lòng nhớ quê mà thốt lên rằng Nhật mộ hương quan hà xứ thịYên ba giang thượng sử nhân sầuQuê hương khuất bóng hoàng hônTrên sông khói sóng cho buồn lòng ai? Nỗi buồn của hai thi sĩ có một số điểm khác nhau. Ở Thôi Hiệu do nhìn thấy khói sóng trên dòng sông nên buồn và nhớ về quê nhà, còn ở Huy Cận không nhìn thấy khói nhưng nỗi nhớ nhà vẫn dâng lên da diết. Nếu như Thôi Hiệu nhớ nhà là do đang xa xứ, đang ở xứ người còn nỗi nhớ của Huy Cận xuất phát từ một người đang đứng trên mảnh đất của mình nhưng bơ vơ, lạc lõng. Nỗi nhớ thương cũng xuất phát từ sự bất lực, ngán ngẩm của bản thân thi sĩ trước thời cuộc. Đón đọc tuyển tập 🌹 Phân Tích Bạch Đằng Giang Phú 🌹 15 Bài Văn Hay Nhất Phân Tích 2 Khổ Cuối Bài Tràng Giang Facebook – Mẫu 13 Chia sẻ dưới đây bài văn mẫu phân tích 2 khổ cuối bài Tràng giang Facebook giúp các em học sinh có thêm gợi ý làm bài phong phú hơn. Có nhà phê bình nào đó đã tinh tế nhận xét rằng Thơ Huy Cận không phải rượu rót vào chén tức là không say nồng mà là men đang lên; không phải hoa trên cành tức không khoe sắc rực rỡ mà là nhựa đang chuyển. Đúng thế! Cái hồn thơ bề ngoài tưởng lặng lẽ mà rất cao, rất rộng trong thơ ông không dễ gì nắm bắt. Đọc “Tràng giang” – bài thơ trang trọng, cổ kính, đậm đà cốt cách Đường thi mà giản dị mới lạ, độc đáo in rõ dấu ấn của thơ lãng mạn đương thời – mới thấy nhận định trên là đúng. Là Tràng Giang khổ nào cũng dập dềnh sóng nước,Là tâm trạng, khổ nào cũng lặng lẽ u buồn.Lê Vy Hai khổ cuối của bài thơ đã góp phần tạo nên điều ấy Bèo dạt về đâu hàng nối hàng;Mênh mông không một chuyến đò ngang…Lòng quê dợn dợn vời non nước,Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Âm hưởng trầm trầm, chất ngất u buồn của những câu thơ đầu tiên lan rộng đến hai khổ cuối. Từ một cành củi khô ở trước đến hình ảnh “bèo dạt” vô định vô phương ở sau đều gợi lên sự chia li “tan” mà không “hợp”. Bèo dạt về đâu hàng nối hàng;Mênh mông không một chuyến đò ngangKhông cầu gợi chút niềm thân mật,Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Trước cảnh “mênh mông” sông dài trời rộng, cánh bèo xanh nổi như nét điểm xuyết gợi lên cả kiếp người bé nhỏ và vô định. Hình ảnh không phải mới, vốn dĩ đã xuất hiện khá nhiều trong ca dao và thơ cổ nhưng đặt trong dòng “Tràng giang” vẫn đủ sức khiến người thưởng thức cảm nhận rõ rệt thêm cái mênh mông của đất trời, cái xa vắng của thời gian, cái vô cùng của thiên nhiên tạo hóa. Cảnh bao la nhưng vắng bặt bóng dáng con người. Điệp từ “không” như điểm nhấn cho sự vắng ở đây. Song nhưng không có “đò”, không hề có cảnh “cô chu trấn nhật các sa miên” hãy “bến My Lăng nằm không thuyền đợi khách”. Cả dáng cầu nghiêng nghiêng, “cầu bao nhiêu nhịp thương mình bấy nhiêu” cũng không hề xuất hiện, tất cả đều “lặng lẽ”, chỉ có thiên nhiên “bờ xanh” nối tiếp thiên nhiên bãi vàng. Gam màu lạnh. Cảnh quạnh quẽ càng thêm quạnh quẽ, u buồn càng chất ngất u buồn hơn. Cánh bèo trôi hay chính con người đang lạc loài giữa cái mênh mông của đất trời, cái xa vắng của thời gian? Huy Cận là một nhà thơ mới, ảnh hưởng khá nhiều dòng thơ lãng mạn Pháp. Thế nhưng, ông còn là người thuộc nhiều, ảnh hưởng nhiều phong cách trang trọng, cổ kính của thơ Đường. Cốt cách ấy được thể hiện rõ nét trong khổ thơ cuối Lớp lớp mây cao đùn núi bạcChim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều saLòng quê dợn dợn vời con nước,Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Bậc thánh thi Đỗ Phủ đời Đường lại có câu Giang giang ba lãng kiêm thiên dũngTái thượng phong vân tiếp địa âm.Thu hứng và đã được Nguyễn Công Trứ dịch một cách tài hoa rằng Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳmMặt đất mây đùn cửa ải xa. Ý thơ của Đỗ Phủ đã được tái hiện độc đáo qua ngòi bút của Huy Cận Lớp lớp mây cao đùn núi bạc. Từ láy “lớp lớp” khiên mây dày đặc thêm, nhiều tầng nhiều lớp thêm, nên khiến núi ánh lên sắc bạc huyền hoặc như trong mộng. Tứ thơ cao nhã lắm thay! Trong cái tĩnh gần như tuyệt đối của trang thơ, cánh chim có lẽ là chút hồn động nhất. Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa Đã là “cánh nhỏ” mà lại chao nghiêng nên nét thanh mảnh của cánh chim càng nâng thêm một bậc. Sắc hoàng hôn bát ngát trên trang thơ, cánh chim bé bỏng nghiêng chao gợi lên niềm xúc cảm? Sẽ chẳng bao giờ ta quên được ý thơ… Giữa không gian cô tịch, ngẩng nhìn lên cao rồi lại cúi trông mặt nước Lòng quê dợn dợn vời con nướcKhông khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. Tư thế ấy có khiến ta liên tưởng đến Lý Bạch “Cử đầu vọng minh nguyệt – Đê đầu tư cố hương?” Âm hưởng hai câu thơ Đường thi tuyệt tác của Thôi Hiệu phảng phất ở đây Nhật mộ hương quan hà xứ thịYên ba giang thượng sử nhân sầu. Thế nhưng Thôi Hiệu phải có “khói sóng” mới “buồn lòng ai”. Còn nhà thơ của chúng ta “không khói hoàng hôn” mà “lòng quê” vẫn “dợn dợn vời con nước”! Từ láy “dợn dợn” và từ “vời” khiến nỗi buồn triền miên, xa xôi, dàn trải mãi đến vô tận, đến khôn cùng! Nhận xét về Huy Cận, nhà phê bình Hoài Thanh từng viết “Huy Cận có lẽ đã sống một cuộc đời rất bình thường, nhưng ông luôn lắng nghe mình sống để ghi lấy cái nhịp nhàng lặng lẽ của thế giới bên trong”. Đọc những vần thơ của thi nhân, chỉ mong cảm nhận và hiểu thêm một chút về con người thơ ấy. Sau khi phân tích 2 khổ cuối bài Tràng giang, chúng ta sẽ hi vọng một điều rằng “Tràng giang” sẽ còn mãi trôi, lấp lánh trên thi đàn Việt Nam, mãi trôi để nhớ để thương trong lòng người đọc. Mời bạn tham khảo 🌠 Phân Tích Đoạn Cuối Phú Sông Bạch Đằng 🌠 10 Bài Hay Nhất
phân tích khổ 2 bài tràng giang